Tập 324 – Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2014

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014-2017

(Giảng lần thứ 4)

PHẨM 24 – TAM BỐI VÃNG SANH:

Ba Bậc Vãng Sanh

Tập 324

Hòa thượng Thích Tịnh Không chủ giảng.

Giảng tại: Hiệp hội Giáo dục Phật Đà HongKong.

Thời gian: Ngày 18 tháng 4 năm 2016.

Dịch giả: Minh Tâm và Chân Hạnh Ánh

 Giảo chánh: Thích Thiện Trang.

Ban Biên Dịch Hoa Tạng Huyền Môn.

Kính chào chư vị Pháp sư, chư vị đồng học, mời ngồi. Mời mọi người cùng tôi quy y Tam Bảo: “A-xà-lê tồn niệm, ngã Đệ tử Diệu Âm, thỉ tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật-Đà, lưỡng túc trung tôn, quy y Đạt-Ma, ly dục trung tôn, quy y Tăng-Già, chư chúng trung tôn” (3 lần)

Mời xem Đại Kinh Khoa Chú, xem từ dòng cuối cùng của trang 770: 以上三釋 “Dĩ thượng tam thích” (Ba lời giải thích trên), điều bên trên đã nói, của Đại sư Liên Trì, Đại sư U Khê, Đại sư Ngẫu Ích, cách nói của ba ngài, 皆與禪淨諸祖一鼻孔通氣 “giai dữ Thiền Tịnh chư tổ nhất tỵ khổng thông khí” (đều “thở cùng một lỗ mũi” với các Tổ sư Thiền Tông và Tịnh Độ), lỗ mũi này thông khí, lý sự không hai, 正是從大光明藏中自然流出者也 “Chánh thị tùng Đại Quang Minh Tạng trung tự nhiên lưu xuất giả dã” (Chính là từ trong Ðại Quang Minh Tạng tự nhiên lưu xuất). Đại Quang Minh Tạng chính là Tự Tánh của chính mình, không phải do đến từ bên ngoài. Đại sư Huệ Năng nói rất hay, lời đó ngài nói vào lúc ngài ngộ ra, là thật tướng của chính chúng ta, có liên quan hết sức mật thiết với chính chúng ta, không phải không có liên quan. Câu nói sau cùng của Đại sư Huệ Năng, 何期自性,能生萬法 “Hà kỳ Tự Tánh, năng sanh vạn pháp” (Nào ngờ Tự Tánh, có thể sanh ra vạn Pháp), biến Pháp giới hư không giới, quá khứ, hiện tại, vị lai, đều là do Tự Tánh sanh ra hiện ra, đều là A-lại-da biến ra. Tự Tánh có thể sanh có thể hiện, A-lại-da có thể biến, biến thành mười pháp giới, biến thành sáu đường luân hồi, là do A-lại-da biến ra. A-lại-da là gì? Là tâm sanh diệt, Vọng tâm, không phải Chân tâm. Vọng tâm, có sanh có diệt. Tự Tánh là Chân tâm, không sanh không diệt. Biết dùng Tự Tánh, là Phật Bồ-tát; Phàm phu sáu đường, pháp giới Tứ Thánh, mười pháp giới đều là dùng tâm thức, chính là đều dùng A-lại-da. Viên giáo Sơ trụ trở lên, chuyển thức thành trí, không dùng A-lại-da nữa, mà dùng Chân tâm, chính là Chân như Tự Tánh.

Cho nên chúng ta phải biết, điều này rất quan trọng, rất quan trọng. Tại sao chư vị không buông xuống được? Tại sao học Phật khó như vậy? Chính bởi chư vị nhận giả làm thật, vậy thì khó rồi, tại vì sao? Vì không chịu buông giả xuống. Nếu biết chân vọng, thì không cần đi tìm thật, không dùng giả, thì thật liền hiện tiền. Thật ở đâu? Rời xa giả. Giả là tương đối, thật là tuyệt đối, thật không có tương đối. Có tôi, có anh, có họ, đây là tương đối, có đúng có sai, có lớn có nhỏ, có quá khứ có vị lai, đều là tương đối, toàn là giả.

Chúng ta cũng thường hay dùng tivi làm tỷ dụ, trên tivi cùng lúc hiển thị ra cho chúng ta, thật giả là giống nhau. Chúng ta tỷ dụ màn hình là thật, Tự Tánh, không có gì trong đó; Chúng ta tỷ dụ sắc tướng là giả, thứ giả, là A-lại-da. Chư vị xem, chúng ta nhấn nút mở kênh đài, xuất hiện rồi, cùng lúc xuất hiện, thật giả xuất hiện cùng lúc. Chúng ta chỉ chú trọng điều giả, quên mất điều thật rồi, điều thật là gì? Là màn hình, trên màn hình không có thứ gì. Hình ảnh trên màn hình là sanh diệt, một giây sanh diệt 100 lần, một giây 100 tấm hình ảnh qua đi, hình ảnh đó, tuyệt đối không có hai hình ảnh giống nhau, không có. Không giống nhau, không tấm hình nào giống nhau, mà chồng chất lên nhau, chúng ta đã nhìn sai nó, cho rằng nó là thật, thật ra đều là giả.

Thật khó có, ngày nay nhà Cơ học lượng tử: đã nhìn ra rồi. Cho nên xét từ phương diện này, Phật pháp Đại thừa không chỉ là Triết học, mà là Triết học cao cấp, ngày nay nhà Cơ học lượng tử nói với chúng ta, Phật pháp Đại thừa, là Khoa học cao cấp. Khoa học ngày nay mọi người đang thảo luận, đang nghiên cứu: sự huyền bí của vũ trụ, những vật chất trong vũ trụ này là từ đâu đến? Vật lý. Ý niệm là tâm lý, từ đâu đến vậy? Hiện tượng tự nhiên từ đâu đến? Ba điều bí ẩn lớn. Đã phá giải điều thứ nhất rồi, vật chất hoàn toàn sáng tỏ rồi. Ngày nay đang tiến hành đến ý niệm, chư vị xem bao nhiêu người đang nghiên cứu ý niệm, điều huyền bí thứ hai này. Chúng ta có lý do tin tưởng, thêm hai, ba mươi năm nữa, ý niệm là gì cũng sẽ được phát hiện. Đây là điều mà Phật đã nói trên Kinh Đại thừa, công năng của Ý thức thứ sáu, Ý thức thứ sáu có thể duyên hư không pháp giới, đây là hướng ra ngoài; vào trong có thể duyên đến Tam Tế Tướng của A-lại-da, chính là hiện tượng vật chất, hiện tượng tâm lý, hiện tượng tự nhiên, Tam Tế Tướng của A-lại-da, danh từ trong Phật giáo gọi là Nghiệp tướng, Chuyển tướng và Cảnh giới tướng.

Cảnh giới tướng chính là hiện tượng vật chất, Chuyển tướng chính là ý niệm, ý niệm là năng chuyển, hiện tướng là bị chuyển, cho nên tướng là thứ giả, thiên biến vạn hóa, thay đổi theo ý niệm. Câu nói này quá quan trọng rồi! Thay đổi theo ý niệm, ý niệm của chúng ta thiện, thì hiện tượng vật chất thiện; ý niệm của chúng ta ác, thì hiện tượng vật chất ác, nó xoay chuyển theo ý niệm. Cho nên Thế giới Tây Phương Cực Lạc, người nào cũng là người thiện, niệm nào cũng là niệm thiện, không có người ác, không có tà niệm, cho nên gọi là Thế giới Cực Lạc, thế giới tốt đẹp biết bao, từ tâm tưởng sanh. Vậy chúng ta có thể biến quả địa cầu này: thành Thế giới Cực Lạc hay không? Có thể, chỉ cần cư dân trên địa cầu, mỗi một người đều giống như những Bồ-tát của Thế giới Cực Lạc, chỉ có chánh niệm, chỉ có thiện niệm, không có ác niệm, không có tà niệm, thì địa cầu lập tức chuyển biến thành Thế giới Cực Lạc. Hiểu đạo lý này, một cá nhân ta chuyển thì một cá nhân ta thọ dụng, mọi người cùng chuyển, thế thì là Thế giới Cực Lạc. Ở thế giới này, không dễ dàng mọi người cùng chuyển, thế nhưng cá nhân chuyển được, cá nhân chuyển thì cá nhân hiện Thế giới Cực Lạc.

Cho nên, câu nói này, 正是從大光明藏中自然流出者也 “chánh thị tùng Đại Quang Minh Tạng trung tự nhiên lưu xuất giả dã” (chính là từ trong Ðại Quang Minh Tạng tự nhiên lưu xuất), câu này nói tuyệt diệu! Tất cả hiện tướng của chúng ta ngày nay, tự nhiên lưu xuất, từ ngay trong Tự Tánh lưu xuất ra. Do đó ở trên tất cả Kinh, Phật dạy chúng ta đoạn ác tu thiện, tại sao phải đoạn ác tu thiện, không phải sáng rỏ rồi sao? Bởi tất cả bất thiện đó: là từ trong A-lại-da lưu xuất ra, không phải do tự nhiên. Do mặt tốt, giống như Thế giới Cực Lạc, là từ ngay trong Đại Quang Minh Tạng: tự nhiên lưu xuất ra.

自他不二 “Tự tha bất nhị” (Tự và tha không hai), tự tha là một không phải hai. Tánh tướng là một, cũng không phải hai. Tánh thì giống như màn hình tivi mà chúng ta nói, và hình ảnh là một không phải hai. 自他宛然 “Tự tha uyển nhiên” (Tự tha rõ ràng), là một đạo lý. Cho nên xem tivi, thật sự biết xem sẽ khai ngộ, đây không phải giả, thật sự sẽ khai ngộ. Vô lượng Pháp môn, tám muôn bốn ngàn Pháp môn, tivi cũng là một Pháp môn, chư vị phải biết xem, chư vị không biết xem, thì chư vị bị những tướng giả làm mê rồi. Mê rồi, khởi tâm động niệm là tạo nghiệp, niệm thiện cảm ba đường thiện; niệm ác thì tạo ba đường ác. Sáu đường luân hồi xuất hiện cũng là tự tha uyển nhiên, cũng là tự tha không hai, cực kỳ vi diệu.

Cho nên, đáng lẽ sau khi biết chân tướng sự thật, thì giống chư Phật Bồ-tát, bỏ mình hướng người, không tranh nữa. Người thế gian này cạnh tranh, danh từ này không tốt, nếu không thể hạn chế cạnh tranh, leo thang chắc chắn liền trở thành đấu tranh, đấu tranh leo thang nữa chính là chiến tranh, chiến tranh chính là hủy diệt. Quả báo ở đâu? Ở Địa ngục Vô Gián. Từ xưa đến nay, trong nước và nước ngoài, chỉ cần là chiến tranh, thì đôi bên đều đọa Địa ngục, chư vị nói xem sao phải khổ vậy? Cho nên Phật không đấu tranh, chư vị tranh, Phật nhường, chúng ta phải học điểm này, phải nhường. Không tạo nghiệp, nhường là tốt, họ muốn tranh, thì thỏa mãn ham muốn cho họ, chúng ta học Phật vãng sanh Thế giới Cực Lạc, không có học Phật cũng sanh lên trời, thế gian có thể nhường thì lên đến trên trời.

Cho nên tự tha rõ ràng, tự tha không hai. 故來迎之佛即是自心之佛 “Cố lai nghinh chi Phật tức thị tự tâm chi Phật.” (Nên Phật đến đón chính là Phật trong tâm mình). Phật ấy từ đâu đến vậy? Từ tâm tưởng sanh. Tâm của ai tưởng sanh? Tâm của chính ta tưởng sanh, ta tưởng A Di Đà Phật đến tiếp dẫn ta, A Di Đà Phật thật đã đến. Đức Phật ấy là thế nào? Phật ấy là Phật từ trong tâm tưởng của ta, là Phật trong Tự Tánh của ta. Vi diệu! Là lời chân thật. Thế giới Tây Phương Cực Lạc: là sanh ra từ Tự Tánh của ta, trong Thế giới Cực Lạc, vô lượng vô biên vô số Bồ-tát, ba bậc chín phẩm, tức là Bồ-tát trong tâm mình. A Di Đà Phật phân vô lượng vô biên thân, để làm gì? Đến mười phương thế giới tiếp dẫn chúng sanh niệm Phật, vậy vô lượng vô biên chư Phật: cũng là từ Tự Tánh của ta sanh ra. Sau khi nghe xong câu này, phải từ từ mà suy ngẫm, đây là lời thật, nghĩ sáng tỏ rồi thì đã khai ngộ. Không nghĩ, không nghĩ thì ngày ngày niệm, 來迎之佛即是自心之佛 “lai nghinh chi Phật tức thị tự tâm chi Phật” (Phật đến đón chính là Phật trong tâm mình), thường xuyên nghĩ câu nói này, thường xuyên niệm câu nói này, thì có cơ hội thấy Phật: ở trong định, hoặc ở trong mộng.

Tiếp theo nói, 復因自他宛然,故於佛實不來,人亦不去之中,宛現臨終佛迎,往生極樂之事 “Phục nhân tự tha uyển nhiên, cố ư Phật thật bất lai, nhân diệc bất khứ chi trung, uyển hiện lâm chung Phật nghinh, vãng sanh Cực Lạc chi sự” (Lại do tự tha rõ ràng, nên ở nơi Phật thật không đến, bên người cũng không đi, giống như hiện việc lúc lâm chung, Phật đến đón vãng sanh Cực Lạc). Đây là gì, đây là duyên, duyên chín muồi rồi. Duyên này là do đức Thích Ca Mâu Ni Phật cho chúng ta, làm sao chúng ta biết được? Đều là năm xưa khi đức Thích Ca Mâu Ni Phật ở đời, giảng Kinh Vô Lượng Thọ, giảng Kinh Quán Vô Lượng Thọ, giảng Kinh A Di Đà, giới thiệu Thế giới Cực Lạc cho chúng ta, chúng ta mới biết: về phía Tây qua mười vạn ức cõi nước Phật, có Thế giới Cực Lạc, có A Di Đà Phật. Chúng ta muốn vãng sanh, thì thật vãng sanh rồi. 事理圓融,自在無礙,但能仰信,獲益無量。“Sự lý viên dung, tự tại vô ngại, đãn năng ngưỡng tín, hoạch ích vô lượng.” (Sự Lý viên dung, tự tại vô ngại, nếu kính ngưỡng tin được, thì đạt lợi ích vô lượng). Không nên nghi ngờ. Tại sao phải tin tưởng? Vì tin Phật mà tin tưởng, tôi tin đức Thích Ca Mâu Ni Phật không có vọng ngữ, cho nên tôi ngưỡng mộ, tôn kính: đức Thích Ca Mâu Ni Phật, lời Phật nói tôi hoàn toàn có thể tiếp nhận, tôi không có mảy may nghi ngờ nào, thì được vô lượng vô biên lợi ích.

Bên trên, 三輩往生是一類 “Tam bối vãng sanh thị nhất loại” (Ba bậc vãng sanh là một loại), ba bậc Thượng, ba bậc Trung, ba bậc Hạ, đây là thuộc về một loại, cùng một loại. Kinh văn tiếp theo nói rõ 一念淨心 “nhất niệm tịnh tâm” (một niệm tịnh tâm), không cùng một loại với bên trên. Cho nên Đại sư Từ Châu phán là Nhất Tâm Tam Bối, đây là Pháp môn đặc biệt của Tịnh Tông, thù thắng không gì bằng. Một niệm tịnh tâm, 十念一念往生之類。或名一心三輩。一心三輩見於北京淨蓮寺,律宗大德慈舟老法師之《佛說大乘無量壽莊嚴清淨平等覺經科判》“Thập niệm nhất niệm vãng sanh chi loại. Hoặc danh Nhất Tâm Tam Bối . Nhất Tâm Tam Bối kiến ư Bắc Kinh Tịnh Liên tự, Luật Tông Đại đức Từ Châu lão Pháp sư chi Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh Khoa Phán” (Loại mười niệm một niệm vãng sanh. Hoặc gọi là “Nhất Tâm Tam Bối ”. Khái niệm “Nhất Tâm Tam Bối ” được thấy trong [tác phẩm] của lão Pháp sư Từ Châu, bậc Đại đức Luật Tông ở chùa Tịnh Liên, Bắc Kinh, tên là Phật Thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác Kinh Khoa Phán). Hoàng Niệm lão nói với tôi, Pháp sư Từ Châu có Khoa Phán, tôi liền hỏi ngài, chỗ ngài có hay không? Ngài nói có. Tôi nói ngài tặng tôi một bản được không? Ngài liền tặng cho tôi. Tôi đã đem phần Khoa Phán đó của ngài, in trong quyển sách này, trong Kinh Vô Lượng Thọ, mọi người đều có thể xem được. Chúng tôi làm Đại Kinh Khoa Hội, Khoa là dựa theo Khoa Phán của Pháp sư Từ Châu làm bản gốc, chúng tôi chia ra tỉ mỉ thêm, chia được càng rõ ràng, mở rộng ra, từ bản gốc của Pháp sư Từ Châu.

法師乃我國(現代)華北三大高僧之一。曾經在濟南及北京專講本經,並作科判,於一九三九年(己卯年)印行。慈老所判的一心三輩,與會集本經的夏老師,同一心眼,同一手筆 “Pháp sư nãi ngã quốc (hiện đại) Hoa Bắc tam đại Cao Tăng chi nhất. Tằng kinh tại Tế Nam cập Bắc Kinh chuyên giảng bổn Kinh, tịnh tác Khoa phán, ư nhất cửu tam cửu niên (Kỷ Mão niên) ấn hành. Từ lão sở phán đích Nhất Tâm Tam Bối, dữ hội tập bổn Kinh đích Hạ lão sư, đồng nhất tâm nhãn, đồng nhất thủ bút” (Pháp sư chính là một trong ba đại Cao Tăng của miền Hoa Bắc nước ta thời hiện đại. Ngài từng chuyên giảng kinh này ở Tế Nam và Bắc Kinh, và từng làm khoa phán cho Kinh này, đã ấn hành vào năm: Kỷ Mão – 1939. “Nhất Tâm Tam Bối ” do Từ lão phán định, và bản Kinh do thầy Hạ hội tập, có cùng một tâm nhãn, cùng một đường lối). Cách nhìn, cách nghĩ của các ngài hoàn toàn tương đồng. Trong Kinh có một đoạn Kinh văn như vậy. 發前人未發之精蘊,彰淨門久隱之妙諦。禪淨不二之旨,於茲益顯 “Phát tiền nhân vị phát chi tinh uẩn, chương Tịnh môn cửu ẩn chi diệu đế. Thiền Tịnh bất nhị chi chỉ, ư tư ích hiển” (Khai mở điều sâu xa mà người trước chưa nêu, hiển lộ diệu đế ẩn đã lâu của Pháp môn Tịnh Độ. Ý chỉ Thiền Tịnh không hai, càng được hiển lộ). Trước đây không có người nhắc đến, Hạ lão, lão Pháp sư Từ Châu nói ra rồi, không phải tùy tiện mà nói, mà vô cùng rõ ràng trên Kinh văn, là lời Thế Tôn giảng. Có người nghe hiểu rồi, có người nghe không hiểu, có người phát hiện được, có người không phát hiện, do đó đối với Thiền Tông, Tịnh Tông, Thiền Tịnh không hai, ở trong Nhất Tâm Tam Bối nói với chúng ta rất rõ ràng. Niệm lão chú giải đoạn này hết sức tỉ mỉ.

Đoạn thứ ba này, 一心三輩 “Nhất Tâm Tam Bối ” (ba bậc nhất tâm), trong đây chia thành hai khoa lớn, H1. 大乘往生因行 “Đại thừa vãng sanh nhân hạnh” (nhân hạnh của Đại thừa vãng sanh), H2. 往生勝妙果德 “Vãng sanh thắng diệu quả đức” (Quả đức thù thắng vi diệu của vãng sanh). Chúng ta xem đoạn này, nhân hạnh của Đại thừa vãng sanh, lại chia làm hai khoa nhỏ, 淨心願生 “Tịnh tâm nguyện sanh”. Điều kiện là tâm thanh tịnh, bởi vì Tây Phương là Tịnh Độ, Tịnh Độ từ đâu đến? Do tâm thanh tịnh biến ra, tâm của chúng ta không thanh tịnh thì không tương ưng với cõi nước đó, chúng ta sanh được tâm thanh tịnh, thì tương ưng với cõi nước đó. Phải làm sao để tâm thanh tịnh? Phải buông xuống, buông xuống Vọng tưởng, buông xuống tạp niệm, buông xuống Phân biệt, buông xuống Chấp trước, thì tâm thanh tịnh hiện tiền. Phải có tâm thanh tịnh ấy, phát một nguyện, tôi phải vãng sanh Thế giới Cực Lạc, thì chư vị nhìn thấy Phật đến tiếp dẫn chư vị, tuyệt diệu vô cùng! Mời xem kinh văn: 【若有眾生住大乘者。】 “Nhược hữu chúng sanh trụ Đại thừa giả.” (Nếu có chúng sanh trụ Pháp Đại thừa). Câu nói này rất quan trọng, 『住大乘者』 “trụ Đại thừa giả” (trụ Đại thừa) chính là đã phát tâm Bồ-đề. 【以清淨心。向無量壽。乃至十念。願生其國。】“Dĩ thanh tịnh tâm, hướng Vô Lượng Thọ, nãi chí thập niệm, nguyện sanh kỳ quốc.” (Dùng tâm thanh tịnh, hướng về đức Vô Lượng Thọ, ngay cả mười niệm, nguyện sanh nước ấy). Vậy cũng được vãng sanh, không phải mỗi ngày niệm Phật, mà lúc mạng sắp hết, cả đời chưa từng niệm Phật, lúc mạng sắp hết thậm chí 10 niệm đều có thể vãng sanh. Chúng ta xem chú giải của Niệm lão, vô cùng tuyệt vời, chú rất tỉ mỉ, giúp chúng ta tăng thêm lòng tin, giúp chúng ta nhất định được sanh trong đời này.

右章 “Hữu chương” (Chương trước) chương phía trước, chính là sáu câu, một câu bốn chữ, chỉ có sáu câu, 全是《唐譯》經文 “toàn thị Đường Dịch Kinh văn” (toàn là Kinh văn của bản dịch đời Đường). Cho nên Cổ đức có nói, hai bản dịch đời Ngụy và đời Đường này: dường như cùng một bản tiếng Phạn. Thế nhưng đoạn Kinh văn này của bản dịch triều Đường, 系統分明,文富義深,遠勝《魏譯》 “Hệ thống phân minh, văn phú nghĩa thâm, viễn thắng Ngụy Dịch” (Hệ thống rõ ràng, văn phong phú nghĩa thâm sâu, vượt xa bản dịch triều Ngụy), dịch hay hơn bản Ngụy Dịch, dịch được rõ ràng. Văn phú, phú là đầy đủ, giảng được rõ ràng, giảng được sáng tỏ, ý nghĩa rất sâu, hay hơn bản Ngụy Dịch. 《魏譯》則分散於本品首尾兩處。於上輩之前云:諸有眾生,聞其名號,信心歡喜,乃至一念,至心迴向,願生彼國,即得往生。 “Ngụy Dịch tắc phân tán ư bổn phẩm thủ vĩ lưỡng xứ. Ư Thượng bối chi tiền vân: Chư hữu chúng sanh, văn kỳ danh hiệu, tín tâm hoan hỷ, nãi chí nhất niệm, chí tâm hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc, tức đắc vãng sanh.” (Bản Ngụy dịch thì phân tán ở hai nơi đầu và cuối của phẩm này. Phần bậc Thượng phía trước nói rằng: Những chúng sanh hữu tình, nghe danh hiệu Phật ấy, [sanh] lòng tin hoan hỷ, thậm chí một niệm, chí tâm hồi hướng, nguyện sanh cõi ấy, liền được vãng sanh). Trong bản Ngụy Dịch có một đoạn như vậy. Nhưng trở lại ở trong văn vãng sanh bậc Hạ, lại có mấy câu này, nói rằng: 其有至心,欲生彼國,假使不能作諸功德,當發無上菩提之心。一向專意,乃至十念,念無量壽佛,願生其國。若聞深法,歡喜信樂,不生疑惑。乃至一念,念於彼佛,以至誠心願生其國。此人臨終,夢見彼佛,亦得往生。功德智慧,次如中輩者也。“Kỳ hữu chí tâm, dục sanh bỉ quốc, giả sử bất năng tác chư công đức, đương phát Vô Thượng Bồ-đề chi tâm. Nhất hướng chuyên ý, nãi chí thập niệm, niệm Vô Lượng Thọ Phật, nguyện sanh kỳ quốc. Nhược văn thâm pháp, hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc. Nãi chí nhất niệm, niệm ư bỉ Phật, dĩ chí thành tâm nguyện sanh kỳ quốc. Thử nhân lâm chung, mộng kiến bỉ Phật, diệc đắc vãng sanh. Công đức trí huệ, thứ như Trung bối giả dã.” (Người có chí tâm, muốn sanh cõi ấy, giả sử không thể làm các công đức, nhưng phải phát tâm Vô Thượng Bồ-đề. Một hướng chuyên ý, cho đến mười niệm, niệm Vô Lượng Thọ Phật, nguyện sanh cõi Ngài. Hoặc nghe pháp sâu, hoan hỷ tin ưa, không sanh ngờ vực. Cho đến một niệm, niệm đức Phật ấy, dùng tâm chí thành nguyện sanh cõi Ngài. Người ấy lúc lâm chung, mộng thấy đức Phật đó, cũng được vãng sanh. Công đức trí huệ, kém hơn bậc Trung). Chư vị xem, văn tự của bản Ngụy Dịch rất nhiều, không đơn giản như bản Đường Dịch. Cho nên bản Đường Dịch có độ sâu, dịch rất hay, bản Đường Dịch dịch rất hay. Kinh văn của hai bản dịch này, đều chép ở nơi đây, để chúng ta vừa xem vừa so sánh thì biết ngay.

Vào triều Đường海東元曉師據《魏譯》 “Hải Đông Nguyên Hiểu sư cứ Ngụy Dịch” (Sư Hải Đông Nguyên Hiểu căn cứ bản dịch triều Ngụy), chữ “cứ” này là căn cứ, căn cứ vào bản Ngụy Dịch, 於《無量壽經宗要》論云 “ư Vô Lượng Thọ Kinh Tông Yếu luận vân” (nói trong Luận Vô Lượng Thọ Kinh Tông Yếu), Tông Yếu là chú giải, ngài đã làm chú giải cho Kinh Vô Lượng Thọ, gọi là Tông Yếu. Trong Luận đó nói: 下輩之內,說二種人 “Hạ bối chi nội, thuyết nhị chủng nhân” (Ở trong bậc Hạ, nói hai hạng người), hai loại người này, 各有三句 “các hữu tam cú” (mỗi hạng có ba câu). 初人三者 “Sơ nhân tam giả” (ba điều của hạng đầu tiên), ba điều của loại người đầu tiên: 一者,假使不能作諸功德,當發無上菩提之心 “Nhất giả, giả sử bất năng tác chư công đức, đương phát Vô thượng Bồ-đề chi tâm” (Một là giả sử không thể làm các công đức, nhưng phải phát tâm Vô Thượng Bồ-đề), đây là nói rõ chánh nhân. Tây Phương là Đại thừa, không phải Tiểu thừa, Đại thừa thì là phải phát tâm Bồ-đề, không phát tâm Bồ-đề thì không thể vãng sanh. Đây là nhân của vãng sanh Thế giới Cực Lạc, là nhân chính. 但為異前人,舉其深信耳 “Đãn vi dị tiền nhân, cử kỳ thâm tín nhĩ” (Nhưng là khác với hạng người trước, nêu sự tin sâu ấy vậy), điều ngài nói không giống phần trước, chỗ này đặc biệt nêu sự tin sâu của họ. 二者,乃至一念念於彼佛。是助滿業。為顯前人無深信故,必須十念。此人有深信故,未必具足十念。 “Nhị giả, nãi chí nhất niệm niệm ư bỉ Phật. Thị trợ mãn nghiệp. Vi hiển tiền nhân vô thâm tín cố, tất tu thập niệm. Thử nhân hữu thâm tín cố, vị tất cụ túc thập niệm.”(Hai là dẫu chỉ một niệm niệm đức Phật kia, là giúp cho mãn nghiệp. Là hiển thị hạng người trước không có tin sâu, nên phải mười niệm. Còn hạng người này có tin sâu, nên chưa hẳn đủ mười niệm). Dấu ngoặc đơn ở đây, là ý kiến của lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ, ngài nói:按元曉師之說乃專據《魏譯》 “Án Nguyên Hiểu sư chi thuyết nãi chuyên cứ Ngụy Dịch” (theo lời của sư Nguyên Hiểu là chuyên căn cứ bản Ngụy Dịch), cách nói: 若就本經,則一念得生者,全因獲得一念淨心也 “Nhược tựu bổn Kinh, tắc nhất niệm đắc sanh giả, toàn nhân hoạch đắc nhất niệm tịnh tâm dã” (Nếu theo Kinh này, thì người một niệm được sanh, toàn do đạt được nhất niệm tịnh tâm). Chỗ này dịch hay, lời dịch của bản Đường Dịch hay, hay hơn bản Ngụy Dịch. Nhất niệm tịnh tâm, điều này quan trọng, nhất niệm tịnh tâm, nhất niệm thì có thể được sanh. 從一心中,念佛一聲,頓即與彌陀本願相應,故臨終即得往生。 “Tùng nhất tâm trung, niệm Phật nhất thanh, đốn tức dữ Di Đà bổn nguyện tương ưng, cố lâm chung tức đắc vãng sanh.” (Từ trong nhất tâm, niệm Phật một tiếng, liền tương ưng với bổn nguyện của Di Ðà, nên lâm chung liền được vãng sanh). Đây là nói rõ vãng sanh dễ dàng.

Đây là nói lúc mạng sắp hết, một niệm sau cùng lúc mạng sắp hết ấy, là cầu sanh Thế giới Tây Phương Cực Lạc, là một niệm này, cũng là đã niệm một câu, một tiếng Phật hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, một niệm một tiếng Phật hiệu thì họ có thể vãng sanh. Thế nhưng không thể cầu may việc đó, sợ có người cầu may: lâm chung một niệm liền có thể vãng sanh, thì hà tất hiện nay ta phải niệm Phật? Đợi đến lúc ta lâm chung, ta niệm một niệm không phải được rồi sao? Lúc mạng sắp hết ai nhắc nhở chư vị? Nếu chư vị quên mất thì làm sao? Nếu lúc đó, một niệm sau cùng trong tâm chư vị nghĩ đến việc khác thì làm sao? Cho nên chúng ta không thể cầu may, không thể đầu cơ trục lợi, chúng ta hết sức thành thật, thì một niệm lúc lâm chung có thể vãng sanh, vậy ngày ngày tôi niệm A Di Đà Phật, đương nhiên tôi sẽ vãng sanh, vậy thì đúng rồi.

Giống như lão Hòa thượng Hải Hiền ở chùa Lai Phật vậy, từ sáng đến tối niệm A Di Đà Phật không gián đoạn, ngài đã niệm bao lâu? 92 năm. Lúc làm việc thì niệm thầm, niệm trong tâm, miệng không niệm mà tâm niệm, Phật hiệu trong tâm chưa từng gián đoạn qua. Phật hiệu trong miệng, bất luận có người hay không, ngài vẫn thường niệm, không dứt. Trong tâm chỉ có A Di Đà Phật, ngoài A Di Đà Phật ra, thì không có ý niệm nào, việc này rất tuyệt vời. Chúng ta chẳng thể không biết, không thể không học tập, phải nghiêm túc học tập. Phải ghi nhớ đoạn Kinh văn này, đây là lý luận, có sự việc như vậy, thật sự không phải giả, một niệm lúc lâm chung cũng có thể vãng sanh, một niệm đó là niệm của tâm thanh tịnh. Thế nào gọi là niệm của tâm thanh tịnh? Trong đó không có vọng tưởng, không có tạp niệm. Trong một niệm đó, không có vọng tưởng, không có tạp niệm, chính là tâm thanh tịnh.

Thứ ba, 以至誠心,願生彼國。此願前行和合為因 “Dĩ chí thành tâm, nguyện sanh bỉ quốc. Thử nguyện tiền hạnh hòa hợp vi nhân” (Dùng tâm chí thành, nguyện sanh cõi ấy. Nguyện này hòa hợp với hạnh trên làm nhân). Một nguyện này, nguyện hạnh, hạnh chính là niệm Phật, nguyện là tín nguyện, có tín, có nguyện, có hạnh, hòa hợp làm nhân, đều đầy đủ ba điều kiện này, tín nguyện hạnh. Tín nguyện hạnh là ba tư lương của Tịnh Độ Tông, cũng chính là, là ba điều kiện của vãng sanh Thế giới Cực Lạc. Tín, là không nghi ngờ, chân thật tin Tây phương có Thế giới Cực Lạc, chân thật tin Thế giới Cực Lạc: có A Di Đà Phật, không có mảy may nghi ngờ. Nguyện, tôi thật muốn đi, tôi không còn lưu luyến thế giới Ta Bà này, buông xuống vạn duyên, ngay cả thân này cũng buông xuống, huống hồ vật ngoài thân. Khi nào buông xuống? Ngay bây giờ buông xuống, niệm niệm đều buông xuống, niệm niệm không rời A Di Đà Phật, buông xuống hoàn toàn thế giới này, buông xuống tất cả thân tâm thế giới. Chư vị xem tín, nguyện, hạnh hòa hợp cả ba, đây là chánh nhân của vãng sanh. 此就菩薩種性人也 “Thử tựu Bồ-tát chủng tánh nhân dã” (Đó chính là người chủng tánh Bồ-tát), người này là người nào? Là Bồ-tát, người có đủ tín nguyện hạnh chính là Bồ-tát. Trong ngoặc đơn này, cũng là do Niệm lão chú thích cho chúng ta, 正是《唐譯》中住大乘者 “chánh thị Đường Dịch trung trụ Đại thừa giả” (đấy là bậc trụ Ðại thừa trong bản dịch đời Đường). 蓋元曉師 “Cái Nguyên Hiểu Sư” (Đại khái sư Nguyên Hiểu), Pháp sư Nguyên Hiểu là người Hàn Quốc, Đại đức của Tịnh Tông Hàn Quốc, ngài nói ngay trong chú giải, 下輩中有兩種人:一者,發菩提心,十念聖號,願生彼國,而得往生,是不定性人 “Hạ bối trung hữu lưỡng chủng nhân: Nhất giả, phát Bồ-đề tâm, thập niệm Thánh hiệu, nguyện sanh bỉ quốc, nhi đắc vãng sanh, thị Bất Định Tánh nhân” (Trong bậc Hạ có hai hạng người: Một là phát tâm Bồ-đề, mười niệm Thánh hiệu, nguyện sanh cõi kia, liền được vãng sanh, là người Bất Ðịnh Tánh), họ có thể vãng sanh.

Cho nên, Tổ sư Đại đức xưa kia của nước chúng ta, cũng đề xướng người công việc vô cùng bận rộn, dạy chư vị niệm pháp thập niệm, đây đều là căn cứ lời trên Kinh mà nói. Tổ sư Đại đức dạy cho chúng ta, mười niệm là lấy một hơi làm một niệm, một hơi này bất luận niệm bao nhiêu không quan trọng, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, hết một hơi là một niệm, dùng cách này làm thời khóa sáng tối. Sáng sớm thức dậy rửa mặt, súc miệng, chắp tay hướng về phía Tây, hoặc là đối trước tượng Phật, niệm mười câu; Buổi tối trước khi đi ngủ, cũng niệm mười câu ở trước tượng Phật. Cả đời không thiếu thời khóa ngày nào, cũng tính là tịnh niệm liên tục.

Lúc tôi ở Singapore, nhìn thấy tín đồ Hồi giáo một ngày cầu nguyện năm lần, bất kể làm việc gì, thời gian vừa đến thì buông xuống tất cả, mặt nhằm hướng về Mecca cầu nguyện. Cho nên trong Tôn giáo tín đồ Hồi giáo đoàn kết nhất, tín đồ Hồi giáo thể hiện kiền thành nhất, nguyên nhân vì sao? Bởi cầu nguyện năm lần. Tôi nhìn thấy hiện tượng này, tôi đề xuất niệm Phật chín lần, một ngày niệm chín lần, còn nhiều hơn họ bốn lần, họ chỉ có năm lần, chúng ta có chín lần, đã thêm bốn lần. Niệm mười câu Phật hiệu: A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, mười câu, ba câu này, niệm mười câu thì được, bây giờ chúng ta là trước khi ăn cơm niệm mười câu. Đây là đề xướng ở Singapore, sáng sớm thức dậy niệm một lần, ba bữa cơm ba lần, là bốn lần; buổi sáng chư vị đi làm, vào ca, tan ca là hai lần; buổi chiều vào ca, tan ca thêm hai lần; buổi tối trước khi ngủ một lần, tổng cộng chín lần. Tập thành thói quen, đến giờ đó, nhất định niệm Phật trước mới bắt đầu. Tốt! Thời thời khắc khắc không quên Phật, không quên A Di Đà Phật, chính là nhắc nhở điều này, không phải việc khác. Đây là pháp mười niệm do tôi đề xướng, không dễ dàng quên mất, Sáng sớm thức dậy, hướng về phương Tây, niệm mười câu A Di Đà Phật; trước bữa sáng niệm mười câu, trước bữa cơm trưa niệm mười câu, trước bữa cơm tối niệm mười câu; trước khi làm việc buổi sáng niệm mười câu, làm việc xong rồi cũng niệm mười câu, làm tan ca, buổi tối làm tan ca; buổi tối trước khi đi ngủ niệm mười câu. Mười niệm Thánh hiệu, nguyện sanh nước ấy, thì được vãng sanh, là người Bất Định Tánh.

二者,聞法深信,乃至一念,願生彼國,而得往生,是菩薩種性人。元曉師實已明察《魏譯》 “Nhị giả, văn pháp thâm tín, nãi chí nhất niệm, nguyện sanh bỉ quốc, nhi đắc vãng sanh, thị Bồ-tát chủng tánh nhân. Nguyên Hiểu Sư thật dĩ minh sát Ngụy Dịch” (Hai là, nghe pháp tin sâu, thậm chí một niệm, nguyện sanh cõi kia, thì được vãng sanh, là người chủng tánh Bồ-tát. Sư Nguyên Hiểu thật đã xét rõ bản Ngụy Dịch), Pháp sư Nguyên Hiểu nhận biết sáng tỏ, bản Ngụy Dịch下輩往生文中,品類不齊 “Hạ bối vãng sanh văn trung, phẩm loại bất tề” (trong Kinh văn phần vãng sanh bậc Hạ, phẩm loại không ngang nhau), người dạng nào cũng có. 試問,聞甚深法,“Thí vấn, văn thậm thâm pháp” (Thử hỏi, nghe Pháp rất sâu), Pháp thậm thâm này chính là Pháp môn Tịnh Độ, nghe rồi thì thế nào? 歡喜信樂,不生疑惑 “Hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc” (Hoan hỉ tin ưa, không sanh nghi ngờ). Tám chữ này thật không dễ dàng, nghe được một câu A Di Đà Phật đó, mà sanh tâm hoan hỷ, sanh lòng tin, yêu thích, nhạo là yêu thích, không sanh nghi ngờ. 如是殊勝智慧,應是何人境界? “Như thị thù thắng trí huệ, ưng thị hà nhân cảnh giới?” (Trí huệ thù thắng như thế, phải là cảnh giới của người nào?) Đây là người nào? Không phải người bình thường, người bình thường không làm được. Cho nên 元曉師名之為菩薩種性人 “Nguyên Hiểu sư danh chi vi Bồ-tát chủng tánh nhân” (sư Nguyên Hiểu gọi họ là người chủng tánh Bồ-tát), đây không phải người phàm. Chủng tánh Bồ-tát từ đâu đến? Từ niệm Phật của đời đời kiếp kiếp trong quá khứ, đời này vừa nghe đến liền hoan hỷ, vừa nghe đến thì tiếp nhận. Một ngày mười niệm, cả đời phụng hành, họ không hề gián đoạn, vậy thì đúng rồi. 既是菩薩種性,復能生深信,起心念佛,以至誠心,願生其國,實不應限於下輩也。“Tức thị Bồ-tát chủng tánh, phục năng sanh thâm tín, khởi tâm niệm Phật, dĩ chí thành tâm, nguyện sanh kỳ quốc, thật bất ưng hạn ư Hạ bối dã.” (Đã là chủng tánh Bồ-tát, lại có thể sanh tin sâu, khởi tâm niệm Phật, dùng tâm chí thành, nguyện sanh cõi ấy, thật không nên giới hạn ở bậc Hạ). Câu nói này của Niệm công rất hay, địa vị của chủng tánh Bồ-tát không nên thấp như vậy.

又《報恩論》曰:謹按此段十念往生,專指住大乘者言之。大乘如禪宗得破參,及讀一切大乘經典 “Hựu Báo Ân Luận viết: Cẩn án thử đoạn thập niệm vãng sanh, chuyên chỉ trụ Đại thừa giả ngôn chi. Đại thừa như Thiền Tông đắc phá tham, cập độc nhất thiết Đại thừa Kinh điển”(Và Báo Ân Luận viết: Xét kỹ đoạn mười niệm vãng sanh đây, là chuyên bàn về người trụ Ðại thừa. Trong Ðại thừa như Thiền Tông phá được tham cứu, và đọc tất cả Kinh điển Ðại thừa), đây là nói Giáo hạ, 得解悟者皆是 “đắc giải ngộ giả giai thị” (người được giải ngộ đều như vậy). Giải ngộ, họ sáng tỏ rồi, không phải chứng ngộ, chứng ngộ là khế nhập cảnh giới, còn họ giải ngộ. 其人不專修淨土 “Kỳ nhân bất chuyên tu Tịnh Độ” (người ấy không chuyên tu Tịnh Độ), người như vậy mà không phải là người chuyên tu Tịnh Độ, 如智者 “như Trí Giả” (như ngài Trí Giả), Đại sư Trí Giả là giải ngộ, Kinh Pháp Hoa của Thiên Thai Tông, 永明 “Vĩnh Minh” (ngài Vĩnh Minh) là Thiền, hai ngài đều là niệm Phật vãng sanh, ngài Vĩnh Minh là Tổ sư đời thứ sáu của Tịnh Độ Tông, ngài là người tu Thiền. 此論所見,更上層樓。 “Thử luận sở kiến, cánh thượng tằng lâu.” (Kiến giải của luận ấy, càng cao hơn nhiều tầng). Trong ngoặc đơn này lại nói, 惜以永明大師為例,稍欠穩妥 “Tích dĩ Vĩnh Minh Đại sư vi lệ, sảo khiếm ổn thỏa” (tiếc là dùng Đại sư Vĩnh Minh làm thí dụ, thì thiếu chút ổn thỏa), tại vì sao? 因永明晝夜彌陀十萬聲 “Nhân Vĩnh Minh trú dạ Di Đà thập vạn thanh” (Vì ngài Vĩnh Minh ngày đêm niệm Phật 100 ngàn tiếng). Ngài không phải mười niệm, ngài Vĩnh Minh rất tuyệt vời, ban ngày niệm Phật 100.000 tiếng, ban đêm cũng niệm Phật 100.000 tiếng, một ngày niệm 200.000 tiếng Phật hiệu, cả đời không gián đoạn. Trong Thiền Tông, đã đại triệt đại ngộ, minh Tâm kiến Tánh, quay đầu trở lại chuyên niệm A Di Đà Phật, tiếp dẫn đồng tu có duyên với Phật, cùng sanh Thế giới Cực Lạc.

Chúng ta xem tiếp phía sau, 蓋經云住大乘者,其心清淨,聞甚深法,即生信解。如是智慧猛利,信願堅固之人。唯智者、永明、中峰諸大老,方所堪能。既同智者、永明、中峰諸大祖師,又焉能位列下輩。是故夏師會本,於三輩往生人後,專引《唐譯》,另成一段。以表常言之三輩往生之外,另有一格。就是慈舟法師判之為一心三輩者也 “Cái Kinh vân trụ Đại thừa giả, kỳ tâm thanh tịnh, văn thậm thâm pháp, tức sanh tín giải. Như thị trí huệ mãnh lợi, tín nguyện kiên cố chi nhân. Duy Trí Giả, Vĩnh Minh, Trung Phong chư Đại lão, phương sở kham năng. Tức đồng Trí Giả, Vĩnh Minh, Trung Phong chư đại Tổ sư, hựu yên năng vị liệt Hạ bối. Thị cố Hạ sư hội bổn, ư tam bối vãng sanh nhân hậu, chuyên dẫn Đường Dịch, lánh thành nhất đoạn. Dĩ biểu thường ngôn chi tam bối vãng sanh chi ngoại, lánh hữu nhất cách. Tựu thị Từ Châu Pháp sư phán chi vi Nhất Tâm Tam Bối giả dã” (Đại khái Kinh nói người trụ trong Ðại thừa, tâm họ thanh tịnh, nghe pháp thật sâu, liền sanh tín giải. Người trí huệ nhạy bén, tín nguyện kiên cố như vậy. Thì chỉ các Đại lão như Trí Giả, Vĩnh Minh, Trung Phong, mới có thể kham nổi. Đã ngang với bậc đại Tổ sư như ngài Trí Giả, Vĩnh Minh, Trung Phong, thì lẽ đâu có thể xếp ở bậc Hạ? Bởi vậy trong bản Hội tập của thầy Hạ, sau phần ba bậc người vãng sanh, chuyên trích dẫn bản Đường Dịch, thành một đoạn riêng: để thể hiện ngoài ba bậc vãng sanh thường nói ra, còn có riêng một cách. Tức là hạng “Nhất Tâm Tam Bối ” mà Pháp sư Từ Châu phán định), đây là có phong cách đặc biệt.一心三輩,乃別有大人作略,超越常格,而得往生者。此之作略,即一心也 “Nhất Tâm Tam Bối, nãi biệt hữu Đại nhân tác lược, siêu việt thường cách, nhi đắc vãng sanh giả. Thử chi tác lược, tức nhất tâm dã” (Nhất Tâm Tam Bối, là riêng có bậc Đại nhân tạo ra con đường [đặc biệt], vượt khỏi cách thường, mà được vãng sanh. Con đường việc làm đó, chính là “nhất tâm”). 本品中,一念淨心 “Bổn phẩm trung, nhất niệm tịnh tâm” (một niệm Tịnh tâm, ở trong phẩm này), chính là 一念淨信 “nhất niệm tịnh tín”: đã nói trong phẩm Thập Phương Phật Tán ở phía trước.

Nhất niệm tịnh tâm chính là nhất niệm tịnh tín, nhất niệm tịnh tín chính là không mảy may nghi ngờ. Khó! Ngày nay đến đâu, tìm được người nhất niệm tịnh tín? Lão Hòa thượng Hải Hiền là nhất niệm tịnh tín, tam Thánh của chùa Lai Phật đều là nhất niệm tịnh tín. Tại vì sao: chúng ta không thể thành nhất niệm tịnh tín? Bởi đau lưng nhức mỏi thế là tìm Bác sĩ, vậy thì không phải nhất niệm tịnh tín. Nhất niệm tịnh tín là thế nào? Cho dù là có chỗ nào bị thương bị đau, họ niệm một câu Phật hiệu đến cùng, thì hết toàn bộ rồi, đó là người nhất niệm tịnh tín, nhất niệm tịnh tín rất khó được. Cho nên trong quyển này của chúng ta, bản hội tập của thầy Hạ, chuyên trích dẫn từ bản Đường Dịch, làm đoạn sau cùng của phẩm này, thêm đoạn này vào phía sau của ba bậc vãng sanh, bậc Thượng, bậc Trung, bậc Hạ, sau cùng Nhất Tâm Tam Bối, thì rõ ràng rồi, sáng tỏ rồi.

Trong Chú Giải Niệm lão lại nói với chúng ta, nhất tâm tịnh tín có xuất xứ, chính là nhất tâm tịnh tín: được nói trong 十方佛讚品 “Thập Phương Phật Tán Phẩm” (Phẩm Mười Phương Phật Tán Thán) mà phía trước nói đến. Ngày nay chúng ta tu Tịnh Độ, mà vẫn muốn tu Pháp môn khác, hoặc muốn Thiền, hoặc muốn Giáo, hoặc muốn Mật. Lão Hạ Liên Cư thì thông cả Tông Giáo Hiển Mật, lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ cũng như vậy, các ngài không giống lão Hòa thượng Hải Hiền, lão Hòa thượng Hải Hiền là nhất niệm tịnh tâm, nhất niệm tịnh tín, mỗi ngài biểu pháp khác nhau. Ngay trong Phẩm Mười Phương Phật Tán Thán phía trước, có nhất niệm tịnh tín, có nói:乃至能發一念淨信,所有善根至心迴向,願生彼國,隨願皆生。“Nãi chí năng phát nhất niệm tịnh tín, sở hữu thiện căn chí tâm hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc, tùy nguyện giai sanh.” (Thậm chí có thể phát một niệm tịnh tín, đem tất cả thiện căn chí tâm hồi hướng, nguyện sanh cõi ấy, đều tùy nguyện vãng sanh). Thế thì hiện tại, 乃至獲得一念淨心,發一念心,念於彼佛。……定生彼國 “nãi chí hoạch đắc nhất niệm tịnh tâm, phát nhất niệm tâm, niệm ư bỉ Phật…định sanh bỉ quốc” (Thậm chí đạt được một niệm tịnh tâm, phát một niệm tâm, niệm đức Phật kia… thì nhất định sanh cõi ấy), chữ “định” này quan trọng, nhất định vãng sanh Thế giới Cực Lạc. 前後呼應,同顯一心與一念之旨。此實淨土法門之妙體 “Tiền hậu hô ứng, đồng hiển nhất tâm dữ nhất niệm chi chỉ. Thử thật Tịnh Độ Pháp môn chi diệu thể”(Hô ứng trước sau, cùng hiển hiện ý chỉ “nhất tâm và nhất niệm”. Ðây thật là diệu thể của Pháp môn Tịnh Độ), hai chữ này dùng hay. 夏師之會集,慈老之科判,均契諸佛本懷,深顯禪淨不二,實大有功於聖教。 “Hạ sư chi hội tập, Từ lão chi khoa phán, quân khế chư Phật bổn hoài, thâm hiển Thiền Tịnh bất nhị, thật đại hữu công ư Thánh giáo.”(Bản Hội tập của thầy Hạ, và Khoa phán của Từ lão, đều khế hợp bổn hoài chư Phật, hiển thị sâu xa Thiền Tịnh không hai, thật rất có công với Thánh giáo). Không phải các ngài đã chỉ ra cho chúng ta, thì chúng ta cũng nhìn không ra, rõ ràng điểm này rồi, chúng ta bỗng nhiên đại ngộ ở chỗ này. Có cần đi học thêm Thiền không? Không cần thiết, nhất niệm tịnh tâm chính là Thiền, nhất niệm tịnh tín chính là Giáo.

Tịnh Độ Tông, một đằng tịnh tâm, một đằng tịnh tín. Tịnh tín, tín nguyện hạnh là ba tư lương của Tịnh Độ Tông, tịnh tâm là Thiền Tông. Đề Kinh của chúng ta, sau cùng của đề Kinh, “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác”, tịnh tín chính là tâm thanh tịnh, sâu hơn tâm thanh tịnh một tầng, chính là tâm bình đẳng. Không những chúng ta giải được, còn phải hành được, tín nguyện hạnh, hạnh là gì? Hạnh là nhất niệm tịnh tâm. Giáo là nhất niệm tịnh tín, chúng ta tin tưởng Tây Phương có Thế giới Cực Lạc, có A Di Đà Phật, không nghi ngờ một chút nào, đây gọi là tịnh tín. Thế giới Cực Lạc từ đâu đến? Do tự tâm hiện ra, tự tâm của ai? Tự tâm của ta, đây là Thiền. Thiền, Giáo là một không phải hai, không có phân chia. Thanh tịnh bình đẳng giác trên đề Kinh, đây là Tịnh, cũng là Thiền, cũng là Mật. Tâm thanh tịnh, là A-la-hán, Bích-chi-phật; Tâm bình đẳng, là Bồ-tát; Giác, là Pháp thân Bồ-tát, Chánh giác, Pháp thân Bồ-tát là Chánh giác, Như Lai Chánh giác, không thể nghĩ bàn. Cho nên, vận dụng thanh tịnh bình đẳng giác: là thực sự phát tâm, thực sự tu hành. Tâm không thanh tịnh, do chưa buông xuống, chưa buông phiền não tập khí xuống; tâm không bình đẳng, là chưa buông xuống phân biệt chấp trước. Đắc tâm thanh tịnh, chính là địa vị của A-la-hán, Bích-chi-phật; Được tâm bình đẳng, chính là Tam Hiền Bồ-tát; Giác, là Pháp thân Đại sĩ, A-duy-việt-trí Bồ-tát.

Cho nên 今云 “kim vân” (Đây nói), đây nói là bản Hội tập của lão Cư sĩ Hạ Liên Cư, nói rằng乃至獲得一念淨心,發一念心,念於彼佛,定生彼國。前後呼應,同顯一心與一念之旨 “Nãi chí hoạch đắc nhất niệm tịnh tâm, phát nhất niệm tâm, niệm ư bỉ Phật, định sanh bỉ quốc. Tiền hậu hô ứng, đồng hiển nhất tâm dữ nhất niệm chi chỉ” (Thậm chí đạt được một niệm tịnh tâm, phát một niệm tâm, niệm đức Phật ấy, thì nhất định sanh cõi đó. Hô ứng trước sau, cùng hiển hiện ý chỉ nhất tâm và nhất niệm), đây là diệu thể của Tịnh Tông. Hội tập của thầy Hạ, Khoa phán của Từ lão, đều hợp ý với bổn hoài của chư Phật, thể hiện sâu xa ý Thiền Tịnh không hai, đã làm ra cống hiến vĩ đại cho Phật giáo.

Chúng ta xem thêm đoạn ở phía sau. 一心與一念,文異而實同。《教行信證》 “Nhất tâm dữ nhất niệm, văn dị nhi thật đồng. Giáo Hành Tín Chứng” (Nhất tâm và nhất niệm, văn khác nhưng thật giống nhau. Sách Giáo Hạnh Tín Chứng), đây là trước tác của Đại sư thuộc Tịnh Tông Nhật Bản, trong đó nói,言一念者,信心無二心,故曰一念。是名一心 “ngôn nhất niệm giả, tín tâm vô nhị tâm, cố viết nhất niệm. Thị danh nhất tâm” (nói: Nhất niệm là tín tâm, không có tâm thứ hai, nên nói là nhất niệm. Đấy gọi là nhất tâm). Nhất tâm và nhất niệm, Tổ sư Đại đức giải thích cho chúng ta. 一心是清淨報土的真因 “Nhất tâm thị thanh tịnh Báo độ đích chân nhân” (Nhất tâm là nhân chân thật của Báo độ thanh tịnh), câu nói này quan trọng. Cho nên, tiêu chuẩn trong tu hành của Tịnh Tông, gọi là Nhất Tâm Bất Loạn, mức độ cạn mà nói là Sự Nhất Tâm Bất Loạn, mức độ sâu mà nói là Lý Nhất Tâm Bất loạn. Sự Nhất Tâm Bất Loạn sanh Phương Tiện Hữu Dư độ, Lý Nhất Tâm Bất Loạn sanh Thật Báo Trang Nghiêm độ. Niệm lão đã giải thích cho chúng ta ở đây, 信心無二之心,即是一心,亦即是一念。並謂此為清淨報土之真因 “Tín tâm vô nhị chi tâm, tức thị nhất tâm, diệc tức thị nhất niệm. Tịnh vị thử vi thanh tịnh Báo độ chi chân nhân” (Lòng tin là không hai tâm, tức là nhất tâm, cũng chính là nhất niệm. Đồng thời gọi đây là nhân chân thật của Báo độ thanh tịnh), Báo độ thanh tịnh là Thật Báo Trang Nghiêm độ, 則往生者必將登實報莊嚴土,而成地上之大士。一心之不可思議殊勝功德,於此可見 “Tắc vãng sanh giả tất tương đăng Thật Báo Trang Nghiêm độ, nhi thành Địa thượng chi Đại sĩ. Nhất tâm chi bất khả tư nghì thù thắng công đức, ư thử khả kiến”(Chính là người vãng sanh chắc chắn sẽ lên cõi Thật Báo Trang Nghiêm, liền thành bậc Ðại sĩ của Ðịa thượng. Công đức thù thắng không thể nghĩ bàn của nhất tâm ấy, có thể thấy ở đây).

Với người niệm Phật thì điều gì là quan trọng nhất? Nhất tâm quan trọng nhất, nhất tâm chính là bất loạn, bất loạn chính là nhất tâm. Trên sự, Nhất Tâm Bất loạn, là đã đoạn Kiến tư phiền não; trên lý, Nhất Tâm Bất Loạn, là phá Vô minh phiền não rồi. Đây là mục tiêu của người niệm Phật, tiêu chuẩn của người niệm Phật, không thể không biết, không thể không thật làm. Lão Hòa thượng Hải Hiền: là tấm gương tốt nhất của chúng ta, còn có Sư đệ của ngài, mẫu thân của ngài, ba người đều là biết trước ngày giờ, tự tại vãng sanh, ra đi tự tại biết mấy, vô cùng rõ ràng, vô cùng sáng tỏ, nói với mọi người Phật đến tiếp dẫn. Cho nên, vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc, thành tựu Pháp thân Đại sĩ. Thì công đức thù thắng không thể nghĩ bàn của nhất tâm ấy, có thể thấy ở đây.

又《信心銘》曰:信心不二,不二信心。言語道斷,非去來今。 “Hựu Tín Tâm Minh viết: Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm. Ngôn ngữ đạo đoạn, phi khứ lai kim.” (Và Sách Tín Tâm Minh ghi rằng: Tín tâm không hai, không hai tín tâm. Ngôn ngữ bặt dứt, không xưa nay mai). Bài kệ này nói hay, 表不二之信心,就是不可思議的一心 “Biểu bất nhị chi tín tâm, tựu thị bất khả tư nghì đích nhất tâm”(Thể hiện tín tâm của không hai, chính là nhất tâm không thể nghĩ bàn), Tịnh Tông giảng nhất tâm. 一念淨信,隨願皆生 “Nhất niệm tịnh tín, tùy nguyện giai sanh” (Một niệm tịnh tín, thì tùy nguyện đều sanh), là thật không phải giả. Vấn đề ngày nay của chúng ta ở chỗ nào? Phát sinh ở buông không xuống, không buông xuống được. Tại sao không buông xuống được? Vì chưa làm rõ ràng chân tướng sự thật, xem điều giả là điều thật, xem điều thật là điều giả, một mực hạ thủ công phu trên giả tướng, thật tướng thì quên một cách sạch sẽ, ngay cả khái niệm cũng không còn, làm sao đây? Vậy thì cần phải nghiêm túc nơi Kinh giáo, Kinh giáo giúp chúng ta phá mê khai ngộ, giúp chúng ta nhận biết thật tướng, đáng xả thì phải xả, đáng giữ thì phải giữ. Thù thắng của Pháp môn Tịnh Tông: là thù thắng ở đới nghiệp vãng sanh, không cần phải đoạn phiền não, mang theo nghiệp thì có thể vãng sanh, đới nghiệp không thể chứng quả, thế nhưng có thể vãng sanh. Cho nên chúng ta đem việc tiêu nghiệp chướng này, toàn bộ đến Thế giới Cực Lạc làm tiếp, ở nơi đây không cần để ý tới, một lòng tín nguyện trì danh cầu sanh Tịnh Độ, thì đúng rồi.

Tiếp theo trích dẫn trong Viên Trung Sao nói rằng: 持名一心不亂者,因也。得一念者,約行成而為言也。 “Trì danh Nhất tâm Bất loạn giả, nhân dã. Đắc nhất niệm giả, ước hạnh thành nhi vi ngôn dã.” (Trì danh Nhất Tâm Bất Loạn là nhân. Ðắc nhất niệm là: đại khái nói về hạnh thành tựu). Thế nào gọi là nhất tâm? Nhất niệm chính là nhất tâm. 此言一念之力,有伏惑之功 “Thử ngôn nhất niệm chi lực, hữu phục hoặc chi công” (Đó là nói: sức của nhất niệm, có công năng phục phiền não), chỉ cần nhất niệm, thì hoàn toàn phục dừng phiền não tập khí rồi, tuy có nhưng nó không khởi hiện hành. 臨終正念,自然現前,往生淨土必矣 “Lâm chung chánh niệm, tự nhiên hiện tiền, vãng sanh Tịnh Độ tất hỹ”(Lâm chung chánh niệm, tự nhiên hiện tiền, thì chắc chắn vãng sanh Tịnh Ðộ rồi), giống như bảo đảm cho chúng ta rồi. 蓋言 “Cái ngôn” (Đại khái nói), tiếp theo đây là lời do Niệm lão nói, 持名心無散亂者,因行也。能得一念,乃行成之果 “Trì danh tâm vô tán loạn giả, nhân hạnh dã. Năng đắc nhất niệm, nãi hạnh thành chi quả” (Trì danh tâm không tán loạn là nhân hạnh, có thể được nhất niệm: là quả thành tựu của hạnh), quả đức được thành tựu do tu hành, 若得一念,則臨終時,能伏諸惑,正念自然現前 “Nhược đắc nhất niệm, tắc lâm chung thời, năng phục chư hoặc, chánh niệm tự nhiên hiện tiền” (Nếu được nhất niệm, thì lúc lâm chung, có thể phục các hoặc, chánh niệm tự nhiên hiện tiền). Cho nên một niệm đó quan trọng, nhất niệm chính là nhất tâm. Tại sao có thể phục các hoặc? Bởi chư hoặc chính là phiền não tập khí, một niệm có thể phục, nhất niệm là A Di Đà Phật, niệm niệm là A Di Đà Phật, thì phiền não tập khí sẽ không khởi lên. Quả là có thể giống Đại sư Vĩnh Minh, ban ngày 100.000 tiếng Phật hiệu, ban đêm 100.000 tiếng Phật hiệu, 200.000 tiếng Phật hiệu, ngài không sanh phiền não nữa rồi; Nếu ngài sanh phiền não, thì không niệm thành 200.000 tiếng Phật hiệu. Tiếng tiếng Phật hiệu phân minh, vô cùng rõ ràng, vô cùng sáng tỏ, chúng ta phải học, phải noi gương theo ngài.

Phát tâm Đại thừa, tâm lượng phải mở rộng, A Di Đà Phật, tâm bao thái hư, lượng chu sa giới, Tự Tánh từ xưa nay là như vậy. Tại sao chúng ta biến thành tâm lượng nhỏ thế này, ưa thích thứ này, chán ghét thứ kia? Tâm lượng quá nhỏ. Tâm lượng nhỏ không sanh trí huệ, mà sanh phiền não, tạo nghiệp, quả báo là sáu đường luân hồi, ở trong sáu đường luân hồi, oan oan tương báo không bao giờ dứt, khổ không nói nên lời, thì sai rồi. Người thật sự thông minh không làm việc dại dột này, có duyên phận tốt như vầy, tại sao không niệm Phật? Tiếp theo đây nói, 故本經曰,發一念心,念於彼佛,定生彼國 “Cố bổn kinh viết, phát nhất niệm tâm, niệm ư bỉ Phật, định sanh bỉ quốc” (Nên Kinh này nói: phát một niệm tâm, niệm đến Phật ấy, thì nhất định được vãng sanh cõi đó). Ghi nhớ, một niệm tâm, ta chỉ cần một ý niệm, ta không có ý niệm thứ hai, ta chỉ có một nguyện vọng, không có nguyện vọng thứ hai, chính là cầu sanh Thế giới Cực Lạc, thì chư vị nhất định được sanh.

Và trong Di Đà Yếu Giải nói: 十念乃至一念往生,但約臨終時,亦與此無違。 “Thập niệm nãi chí nhất niệm vãng sanh, đản ước lâm mạng chung, diệc dữ thử vô vi.” (Mười niệm cho đến một niệm vãng sanh, chỉ ràng buộc lúc lâm chung, cũng không trái với điều này). Đây là lời của Đại sư Ngẫu Ích, mười niệm vãng sanh, một niệm vãng sanh, đều là giảng khi mạng sắp hết, không trái ngược với điều nói ở chỗ này. 若於平時能發一念清淨心,冥契理體,入於一念,則因此一念之力,臨終必仍能有十念或一念也。“Nhược ư bình thời năng phát nhất niệm thanh tịnh tâm, minh khế Lý Thể, nhập ư nhất niệm, tắc nhân thử nhất niệm chi lực, lâm chung tất nhưng năng hữu thập niệm hoặc nhất niệm dã.” (Nếu bình thường phát khởi được một niệm tâm thanh tịnh, ngầm khế hợp Lý Thể, nhập ở nhất niệm, thì do sức của một niệm ấy, lúc lâm chung chắc chắn vẫn có được mười niệm hay một niệm). Lúc bình thường chúng ta làm công phu này, tu nhất niệm, điều này quan trọng, lực của một niệm này, có thể cảm được mười niệm, một niệm lúc lâm chung. Cho nên, lâm chung một niệm, mười niệm vãng sanh: cũng không phải là việc dễ dàng, họ dụng công một đời này, hoặc là đời trước, đời đời kiếp kiếp, trong A-lại-da chứa đựng chủng tử niệm Phật, mới có thể khởi hiện hành.

如《圓中鈔》所云:此言一念之力,有伏惑之功,臨終正念,自然現前。 “Như Viên Trung Sao sở vân: Thử ngôn nhất niệm chi lực, hữu phục hoặc chi công, lâm chung chánh niệm, tự nhiên hiện tiền.” (Như Viên Trung Sao nói rằng: Đó là nói sức của nhất niệm, có công năng điều phục phiền não, lâm chung chánh niệm, tự nhiên hiện tiền). Thì chư vị sẽ không nghi ngờ, sẽ không sợ hãi, lúc lâm chung chánh niệm không thể hiện tiền, đó là lưu chuyển theo nghiệp rồi, rất đáng sợ, lưu chuyển theo nghiệp chính là sáu đường luân hồi. Người hiện nay tâm tính nóng nảy, tánh tình nóng nảy tương ưng với điều gì? Tương ưng với đường ác, đều không tương ưng với ba đường thiện. Nói cách khác, tương ưng với đường ác chính là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đi vào những nơi đó. Chư vị mong muốn không? Chư vị có thể chịu nổi không? Nếu chư vị không muốn, thế thì phải nhất tâm, nhất niệm, nhất tâm, mới có thể đảm bảo chúng ta vãng sanh Tịnh Độ, không đi vào luân hồi nữa. Chỉ cần không ngừng một câu Phật hiệu này, có Phật hiệu, không có tạp niệm, không có vọng tưởng, vậy thì khống chế được phiền não rồi, phục dừng rồi. Bình thường công phu này đắc lực, lúc lâm mạng chung chánh niệm hiện tiền một cách rất tự nhiên. Chúng ta phải làm, bây giờ phải làm ngay, không thể đợi chờ ngày mai, ngày mai quá muộn rồi, đều phải nắm chắc thời gian từng phút từng giây.

Tiếp theo nói, 又一心中,有事有理 “Hựu nhất tâm trung, hữu Sự hữu Lý” (Và trong nhất tâm, có Sự có Lý), lời này trong Tịnh Tông thường nói. Thế nào gọi là Sự Nhất Tâm? Di Đà Sớ Sao nói: 聞佛名號,常憶常念。以心緣歷,字字分明。前句後句,相續不斷。行住坐臥,唯此一念,無第二念。不為貪瞋煩惱諸念之所雜亂。事上即得,理上未徹。惟得信力,未見道故。名事一心也。 “Văn Phật danh hiệu, thường ức thường niệm. Dĩ tâm duyên lịch, tự tự phân minh. Tiền cú hậu cú, tương tục bất đoạn. Hành trụ tọa ngọa, duy thử nhất niệm, vô đệ nhị niệm. Bất vi tham sân si phiền não chư niệm chi sở tạp loạn. Sự thượng tức đắc, lý thượng vị triệt. Duy đắc tín lực, vị kiến đạo cố. Danh Sự Nhất Tâm dã.” (Nghe danh hiệu Phật, thường nhớ thường niệm. Và tâm duyên theo suốt, từng chữ rõ ràng. Câu trước câu sau, liên tục không dứt. Ði đứng nằm ngồi, chỉ một niệm này, không có niệm thứ hai. Không bị các niệm phiền não tham sân si làm cho tạp loạn. Trên Sự đã đắc, trên Lý chưa thông. Chỉ được sức tin, nên chưa thấy đạo, gọi là Sự Nhất Tâm). Lời của Đại sư Liên Trì nói. Thế nào là Sự Nhất Tâm? Nghe Kinh Vô Lượng Thọ, nghe Kinh A Di Đà, có khái niệm về Thế giới Tây phương Cực Lạc rồi, không thể quên khái niệm này, phải thường xuyên nghĩ nhớ, thường xuyên niệm, Đó chính là dùng tâm vọng tưởng của chúng ta: để phan duyên này. Phải niệm được thế nào? Rõ ràng từng chữ, A Di Đà Phật, hoặc là Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, rõ ràng từng chữ; câu trước câu sau, liên tục không dứt; đi đứng ngồi nằm, chỉ một niệm này, không có niệm thứ hai. Đây chính là tịnh niệm, đây chính là tịnh tín, chính là nhất tâm, chính là nhất niệm, nhất niệm chính là A Di Đà Phật. Ngoài một niệm này ra, không có niệm thứ hai, điều gì cũng buông xuống hết, cũng không chấp trước gì cả, cũng không phan duyên điều gì nữa, buông xuống triệt để, đây gọi là Sự Nhất Tâm. Tại sao là Sự Nhất Tâm? Vì vẫn chưa kiến Tánh, cho nên trên sự họ đắc rồi, trên lý họ chưa thấu suốt, trên Sự Nhất Tâm rồi, vẫn còn lý.

Thêm trong Di Đà Yếu Giải nói rằng: 不論事持理持,持至伏除煩惱,乃至見思先盡,皆事一心。 “Bất luận sự trì lý trì, trì chí phục trừ phiền não, nãi chí Kiến Tư tiên tận, giai Sự Nhất Tâm.” (Không luận là Sự trì hay Lý trì, trì đến mức phục trừ được phiền não, cho đến Kiến Tư tạm thời hết, đều là Sự Nhất Tâm). Phạm vi của Sự Nhất Tâm rất rộng, sự trì là có sự tướng, thật sự đang niệm, một câu tiếp nối một câu, đây là sự trì. Lý trì lại không phải vậy, lý trì là tâm đại Bồ-đề, tương ưng với tâm A Di Đà Phật, tương ưng với thanh tịnh bình đẳng giác, là lý trì. Niệm niệm không rời thanh tịnh bình đẳng giác, niệm niệm chính là thanh tịnh bình đẳng giác, đây là lý trì. Tiếp theo còn giải thích.

Giải thích tiếp theo, 理一心者。《彌陀疏鈔》云:聞佛名號,不惟憶念,即念反觀 “Lý Nhất Tâm giả. Di Đà Sớ Sao vân: Văn Phật danh hiệu, bất duy ức niệm, tức niệm phản quán” (Lý Nhất Tâm, như sách Di Ðà Sớ Sao nói: Nghe danh hiệu Phật, không chỉ nhớ niệm, mà ngay niệm trở về quán tưởng), quán là quán tưởng, là ở trong niệm Phật thêm vào quán tưởng. 體察究審,鞫其根源 “Thể sát cứu thẩm, cúc kỳ căn nguyên” (Thể hội thẩm sát kỹ càng đến cùng, xét hỏi căn nguyên), thể là thể hội nghĩa ấy, sát là thẩm sát, tìm ra căn nguyên của nó, căn nguyên là gì. 體究之極,於自本心,忽然契合。以見諦故 “Thể cứu chi cực, ư tự bổn tâm, hốt nhiên khế hợp. Dĩ kiến Đế cố” (Thể hội xét tìm đến cùng tột, bỗng nhiên khế hợp với: bản tâm của chính mình. Nên bằng kiến Đế), kiến Đế, kiến Đế ở chỗ này, chính là kiến Tánh, kiến Tánh là Lý Nhất Tâm, chưa kiến Tánh là Sự Nhất Tâm, kiến Tánh chính là Lý Nhất Tâm. Cho nên với Sự Nhất Tâm, đơn giản mà nói, là đã đoạn Kiến tư phiền não, Lý Nhất Tâm, đã phá Vô minh phiền não rồi, phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp thân, đó là Lý Nhất Tâm. Vì vậy, Lý Nhất Tâm là Pháp thân Đại sĩ, sanh Thật Báo Trang Nghiêm độ, Sự Nhất Tâm là Tam thừa Bồ-tát, vãng sanh Thế giới Cực Lạc sanh Phương Tiện Hữu Dư độ; Lý Nhất Tâm sanh Thật Báo Trang Nghiêm độ, minh Tâm kiến Tánh, kiến Tánh thành Phật. Làm sao các ngài đắc được vậy? Do nhất tâm nhất niệm mà đạt được. Thật không? Thật. Có chứng minh không? Có, ba vị Thánh ở chùa Lai Phật đã làm chứng minh cho chúng ta, Hòa thượng Hải Hiền, Hòa thượng Hải Khánh, và mẹ của ngài Hải Hiền: là Cư sĩ tại gia, lúc vãng sanh hơn 80 tuổi, làm chứng cho chúng ta, các ngài đều nhất tâm nhất tín nhiều năm. Chúng tôi tin rằng ba ngài ấy: vãng sanh Thế giới Cực Lạc, đều là Lý Nhất Tâm, sanh Thật Báo độ.

《彌陀要解》云:不論事持理持 “Di Đà Yếu Giải vân: Bất luận Sự trì Lý trì” (Sách Di Ðà Yếu Giải nói rằng: Không luận là Sự trì hay Lý trì), chư vị dùng phương pháp nào cũng đều được, chỉ cần 持至心開見本性佛,皆理一心 “trì chí tâm khai kiến bổn Tánh Phật, giai Lý Nhất Tâm” (trì đến mức tâm khai ngộ thấy bổn Tánh Phật, thì đều là Lý Nhất Tâm). Tâm khai này chính là khai ngộ. Khai ngộ, kiến Tánh rồi. Tánh chính là Phật, Phật chính là Tánh, thấy được Tự Tánh, đây gọi là thấy Phật. Cho nên minh Tâm kiến Tánh, kiến Tánh thành Phật. Vì vậy trì danh niệm Phật, phải niệm đến tâm khai ngộ, trong đó có ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là niệm đến công phu Thành Phiến, niệm đến công phu Thành Phiến, chính là trong tâm chỉ có Phật hiệu, ngoài Phật hiệu ra không có tạp niệm, gọi là công phu Thành Phiến, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, một câu tiếp nối một câu. Đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ, ban ngày 100.000 tiếng Phật hiệu, ban đêm 100.000 tiếng Phật hiệu, Thành Phiến rồi, không dễ dàng. Đại sư Vĩnh Minh không phải người phàm, mà là người tái lai, đại triệt đại ngộ trong Thiền, quay đầu trở lại, nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, làm Tổ sư đời thứ sáu của Tịnh Độ Tông.

Về lão Hòa thượng Hải Hiền, nếu chúng ta hỏi ngài, ngài đã niệm bao lâu được công phu Thành Phiến? Công phu Thành Phiến không khó, chúng ta xem trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Vãng Sanh Truyện đã nói, những người ấy niệm Phật ba năm, lâm chung đều là Phật đến tiếp dẫn. Năm xưa, đại khái 40, 50 năm trước, ở Cơ Long có Pháp sư Đức Dung, tuổi tác xấp xỉ với tôi, nhưng đã không còn. Thường xuyên nghe tôi giảng Kinh, có một lần Pháp sư hỏi tôi: những người vãng sanh trong Vãng Sanh Truyện, đều là niệm Phật ba năm đã đi rồi, có phải thọ mạng của họ ba năm là hết rồi không? Tôi nói với ngài, không thể nào, làm gì vừa vặn vậy, người nào cũng là ba năm. Thế tại sao ba năm có thể vãng sanh? Bởi chỉ cần công phu Thành Phiến, thì có thể vãng sanh. Tại vì sao? Vì công phu Thành Phiến rồi, A Di Đà Phật: cảm ứng đạo giao với chư vị một cách tự nhiên, hoặc ở trong mộng, hoặc ở trong định, Phật hiện thân đưa tin tức cho chư vị, nói cho chư vị biết, thọ mạng của chư vị vẫn còn bao lâu, đến lúc đó Phật đến tiếp dẫn chư vị vãng sanh. Thành Phiến thì được đưa tin tức rồi, tự chư vị biết rằng chư vị nhất định có phần vãng sanh, chư vị sẽ hoan hỷ. Thế nhưng có người thông minh bậc nhất, nhìn thấy Phật thì không buông, muốn cầu Phật dẫn họ vãng sanh, con không cần thọ mạng còn lại nữa, vãng sanh như vậy, thế mới hợp lý, mới giảng được thông. Phần lớn người có thể thấy Phật, đều cầu Phật tiếp dẫn vãng sanh, ai bằng lòng ở nơi đây chịu khổ chịu tội. Thế giới Cực Lạc tốt như vậy, người khác muốn đi mà không thành, cơ hội này của tôi chín muồi rồi, thấy được A Di Đà Phật, thì không buông tay ra nữa, như vậy mà vãng sanh.

Chúng ta nhìn thấy câu chuyện: cả đời của lão Hòa thượng Hải Hiền, ngài 20 tuổi xuất gia, nếu chúng ta hỏi, Sư phụ đã truyền cho ngài một câu Phật hiệu: Nam Mô A Di Đà Phật, dặn dò ngài cứ niệm tiếp mãi. Ngài ấy thật thà, nghe lời, thật làm, sở trường chính là sáu chữ này, với sáu chữ này thì ngài thành công rồi. Chúng tôi đoán chừng ba năm công phu Thành Phiến, công phu Thành Phiến, thì Phật đến thông báo rồi, thì ngài thấy Phật, ngài thấy được Thế giới Cực Lạc rồi. Tôi tin ngài cầu vãng sanh, tại sao Phật không dẫn ngài đi? Ngài nhiều lần cầu, đã niệm Phật 92 năm, tôi tin rằng ngài đã gặp mặt A Di Đà Phật: không chỉ 10 lần. Sơ Tổ Tịnh Tông của chúng ta, lão Hòa thượng Viễn công ở niệm Phật đường Đông Lâm, trong truyện ký có ghi chép, cả đời ngài thấy Phật ba lần. Lần thứ tư thấy Phật là tiếp dẫn ngài vãng sanh, trước nay ngài chưa từng nói với ai, sau cùng nói cho người khác biết, trước đây đã thấy ba lần. Người ta hỏi ngài tình hình ở Thế giới Cực Lạc thế nào? Hoàn toàn giống như: những điều được giảng trong Kinh Vô Lượng Thọ.

Lão Hòa thượng Hải Hiền niệm 92 năm, thường xuyên thấy Phật, Sự Nhất Tâm, Lý Nhất Tâm đều đắc được rồi. Tại sao Phật không dẫn ngài đi? Bởi giao cho ngài nhiệm vụ, bảo ngài trụ thế làm biểu pháp, để ngài sống thêm vài năm ở thế gian này, làm ra tấm gương Đệ tử Phật cho người khác xem, Đệ tử Phật môn chân chánh phải giống như ngài vậy. Điều quan trọng hơn, là làm tấm gương cho Đệ tử niệm Phật, Đệ tử Tịnh Tông: niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ phải học ngài. Cho nên ngài là tiếp nhận lời dặn dò của A Di Đà Phật. Giao nhiệm vụ cho ngài, ngài hoàn thành nhiệm vụ mới có thể vãng sanh. Khi nào hoàn thành? Phật nói với ngài, khi nào con nhìn thấy có một quyển sách: Nếu Muốn Phật Pháp Hưng, Chỉ Tăng Tán Thán Tăng, nhìn thấy quyển sách này rồi, thì A Di Đà Phật đón ngài vãng sanh. Ngài đợi mỗi ngày, ai tặng sách cho ngài? Chắc chắn không có ai cả, tại sao vậy? Vì ngài không biết chữ, mọi người đều biết. Không biết chữ, mà chưa từng đi học, làm sao lại có người tặng sách cho ngài? Việc này quả thực là không thể được!

Nào ngờ rằng đợi đến 112 tuổi, lại có Cư sĩ đến thăm ngài, mang theo một quyển sách, không biết là do có ý hay là vô ý. Lão Hòa thượng nhìn thấy một quyển sách, thì hỏi anh ấy, đây là sách gì? Anh ấy liền nói ra: Nếu Muốn Phật Pháp Hưng, Chỉ Tăng Tán Thán Tăng. Ngài nghe được tên sách này vui mừng vô cùng, giống như nhìn thấy bảo vật mà mong muốn bao lâu nay, đã xuất hiện rồi, lập tức mặc áo tràng đắp y, yêu cầu mọi người chụp hình cho ngài. Chính là tấm ảnh đang treo bên đó. Ba ngày sau ngài vãng sanh rồi, hôm ngày vãng sanh, ban ngày làm việc suốt ngày, ban đêm thì ra đi. Ban ngày ở trong vườn rau làm đất, tưới nước, nhổ cỏ, làm cả ngày, làm đến trời tối, người ta nói: Lão Hòa thượng, trời tối rồi, được rồi, không cần làm nữa! Ngài nói thế nào? Tốt rồi, sắp xong rồi, làm hết chỗ này thì tôi không làm nữa. Ngày hôm sau thì đi rồi, ban đêm ra đi, khi đi không ai biết, ngài không nói cho ai biết.

Cho nên từ trong câu chuyện cả đời của ngài, chúng ta nhìn thấy, tôi phỏng chừng lão Hòa thượng đến Thế giới Cực Lạc, thường xuyên đi dạo Thế giới Cực Lạc. Chư vị đừng cho rằng ngài đang ngủ ở đó, ngài đã sang Thế giới Cực Lạc, đi gặp A Di Đà Phật rồi, được đại tự tại. Tôi ước đoán ngài niệm Phật ba năm, sẽ không vượt quá năm năm, thì công phu Thành Phiến; Thêm 5 đến 10 năm, chính là khoảng tầm 30 tuổi, đắc Sự Nhất Tâm Bất Loạn; Khoảng 40 tuổi, đắc Lý Nhất Tâm Bất Loạn, minh tâm kiến Tánh, đại triệt đại ngộ. Sư phụ của ngài dặn dò ngài một câu, là truyền dạy cho ngài lúc xuống tóc, sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, cứ niệm tiếp mãi, sau còn thêm một câu: sáng tỏ rồi, không được nói, không được nói lung tung. Cho nên ngài khai ngộ rồi nhưng không nói, nên không ai biết.

Về khai ngộ, chúng ta liền nghĩ đến Đại sư Huệ Năng, chư vị thấy Đại sư Huệ Năng khai ngộ rồi, ngài không hề nghe qua Kinh điển, chư vị đọc cho ngài nghe, ngài giảng cho chư vị nghe, tất cả đều thông hết, thông hết toàn bộ pháp thế gian và xuất thế gian, không chướng ngại. Lão Hòa thượng Hải Hiền cũng đến cảnh giới này, tại sao lại không nói? Vì Sư phụ dặn dò, không được nói lung tung, không được nói, hoàn cảnh không giống nhau. Thế thì đợi vậy, đợi quyển sách này xuất hiện, A Di Đà Phật tiếp dẫn ngài vãng sanh. Thật sự đợi được rồi, vô lượng hoan hỷ, trước nay chưa từng có tâm hoan hỷ như vậy, như thu hoạch được của báu, sau ba ngày thật đi rồi. Trước khi sắp đi ngài cũng cần phải có tin tức, trước khi sắp đi một tháng, đi thăm bạn bè cũ, để từ biệt, đạo tràng sống qua trước kia, có người qua lại, đều đi chào hỏi, từ biệt. Sau khi đi rồi, mọi người đã biết, đều cảm thấy vô cũng kinh ngạc.

Đức hạnh của lão Hòa thượng, làm người cảm động sâu sắc, đây là tấm gương tốt nhất cho người niệm Phật chúng ta, một câu Phật hiệu niệm đến cùng, ngay cả Kinh cũng không cần đọc. Tại sao ngày nay chúng ta vẫn phải nghe giảng Kinh, vẫn phải giảng Kinh? Để đoạn nghi sanh tín, mục đích ở chỗ này. Nếu chúng ta thật sự tin tưởng, không còn chút nghi ngờ nào cả, thì có cần phải đọc Kinh không? Có thể không đọc, giống lão Hòa thượng vậy, một câu Phật hiệu, câu này tiếp nối câu kia, cứ tiếp tục mãi, ngày đêm không gián đoạn, thì thành công rồi. Niệm đến công phu Thành Phiến, niệm đến Sự Nhất Tâm Bất Loạn, niệm đến Lý Nhất Tâm Bất Loạn, là thành tựu rồi.

Tiếp theo, Di Đà Yếu Giải nói, Không luận là Sự trì hay Lý trì, trì đến tâm khai ngộ thấy Bản Tánh Phật, thì đều là Lý Nhất Tâm. 在一心中,理一心最為上也 “Tại nhất tâm trung, Lý Nhất Tâm tối vi thượng dã” (Ở trong nhất tâm, Lý Nhất Tâm là tối thượng). Đây là cao nhất. Thời gian hôm nay hết rồi, chúng ta học tập đến chỗ này thôi. Phần sau này, Nhất Tâm Tam Bối, Niệm lão chú rất dài, đại khái đoạn Kinh văn này được chú giải dài nhất. Ấy là không thể nghĩ bàn trong Tịnh Tông. Đoạn Kinh văn thù thắng không gì sánh bằng của Tịnh Tông, để chư vị thật sự lý giải, niệm Phật vãng sanh có thù thắng như vậy. Tin thật nguyện thiết, thật thà niệm Phật, thì nhất định được sanh. Câu đó nói đơn giản, Kinh này chính là chứng cứ. Tốt rồi, hôm nay chúng ta học đến đây thôi.

( Hết tập 324)

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử cùng chúng sanh
Đều sanh nước Cực Lạc
Sớm viên thành Phật quả
Rộng độ khắp chúng sanh.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Trả lời 0

Your email address will not be published. Required fields are marked *