TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014-2017
(Giảng lần thứ 4)
PHẨM 9: VIÊN MÃN THÀNH TỰU:
Thành Tựu Viên Mãn
Tập 245
Hòa thượng Thích Tịnh Không chủ giảng.
Giảng tại: Hiệp Hội Giáo Dục Phật Đà Hồng
Kông.
Thời gian: Ngày 10 tháng 09 năm 2015.
Dịch giả: Như Lộ.
Giảo chánh: Thích Thiện Trang.
Kính chào chư vị Pháp sư,
chư vị đồng học, kính mời ngồi. Mời mọi người cùng tôi đồng quy y Tam Bảo:
“A-xà-lê tồn niệm, ngã Đệ tử Diệu Âm, thỉ
tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật-Đà, lưỡng túc trung tôn, quy y Đạt-Ma,
ly dục trung tôn, quy y Tăng-Già, chư chúng trung tôn” (3 lần).
Mời xem Đại Kinh Khoa
Chú: trang thứ 591, trang thứ 591, bắt đầu xem hai chữ cuối cùng của hàng thứ
ba:
諸經互參,則可知所示現之極樂世界,距此土至少在十萬億個三千大千世界之外 “Chư kinh hỗ tham, tắc khả tri sở thị hiện
chi Cực Lạc Thế giới, cự thử Độ chí thiểu tại thập vạn ức cá Tam thiên Đại
thiên Thế giới chi ngoại” (Các kinh tham khảo lẫn
nhau, thì có thể biết Thế giới Cực Lạc được thị hiện, cách cõi này chí ít ở
ngoài trăm ngàn ức Tam thiên Đại thiên Thế giới). Tam thiên Đại thiên Thế giới: là giáo khu của
một vị Phật, chúng ta gọi là cõi nước Phật. 凡夫聞之,常感極樂甚遠,懼不能去,此實由於迷自心量故 “Phàm phu văn chi, thường cảm Cực Lạc thậm
viễn, cụ bất năng khứ, thử thật do ư mê tự tâm lượng cố” (Phàm phu nghe đến điều ấy, thường cảm
thấy Cực Lạc rất xa, sợ không đến được, thật ra đây là do bởi tâm lượng của
chính mình đã bị mê mất). Cõi nước Phật, một Tam thiên Đại thiên Thế giới, có
1 tỉ hệ ngân hà, là khu giáo hóa của một vị Phật. Thế giới Tây Phương Cực Lạc
cách cõi này của chúng ta, trong bản Đường Dịch nói: 十萬億個佛剎 “Thập vạn ức cá Phật sát” (Trăm ngàn ức cõi Phật), một cõi Phật
chính là một Đại thiên Thế giới, trăm ngàn ức cõi nước Phật, khoảng cách xa như
thế. Cho nên người thông thường nghe đến, không thể sanh khởi tín tâm đối với
Thế giới Cực Lạc, nguyên nhân là gì? Quá xa rồi, sợ rằng chúng tôi không đạt được,
10 vạn ức cõi nước Phật, chữ số Thiên văn này, e rằng người ngoài hành tinh
thông thường: khoa học của họ tiến bộ hơn chúng ta, cũng không có cách nào đạt tới,
khoảng cách quá xa, nên tín tâm, nguyện vọng: đối với Thế giới Cực Lạc liền đã
thoái thất. Tiếp theo là vài lời mà: Hoàng Niệm lão nói với chúng ta, những lời
này rất quan trọng, điều này thật sự: ‘Là do bởi tâm lượng của chính mình đã bị
mê mất’, cho nên không còn niềm tin nữa.
Tiếp theo, lão nhân gia
ngài: căn cứ điều được nói trong Kinh Lăng Nghiêm: 據《楞嚴》,則十方虛空生我心中,如片雲點太清裡,何遠之有 “Cứ Lăng Nghiêm, tắc thập
phương hư không sanh ngã tâm trung, như phiến vân điểm thái thanh lý, hà viễn
chi hữu” (Căn cứ theo Kinh Lăng
Nghiêm, thì mười phương hư không sanh trong tâm ta, như vầng mây nhỏ trong bầu
trời xanh, nào có xa chứ?), ‘hà
viễn chi hữu’: đây là nói trăm ngàn ức cõi Phật. Câu này trong Kinh Lăng
Nghiêm, nói được vô cùng hay, mười phương Hư không rất lớn, rất là lớn! Mười
phương Hư không do đâu mà có? Khi Đại sư Huệ Năng khai ngộ: đã nói ra năm câu,
câu sau cùng là: 何期自性,能生萬法 “Hà kỳ Tự Tánh, năng sanh
vạn pháp” (Nào ngờ Tự Tánh, có thể sanh vạn
pháp), câu này rất quan trọng. Mười phương Hư không do đâu mà đến? Vạn pháp
mà ngài Lục tổ nói chính là toàn vũ trụ, tất cả vũ trụ, trong Phật pháp thường
nói là khắp Pháp giới Hư không giới, đều nói đến toàn bộ rồi, không sót điều
nào cả, từ đâu mà đến? Trong Kinh Hoa Nghiêm nói: 唯心所現,唯識所變 “Duy tâm sở hiện, duy thức
sở biến” (Chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến). Tất
cả Báo độ của chư Phật đều là do tâm hiện, tâm của ai? Tâm của ta, chính là Tự
Tánh của chính chúng ta; Mười pháp giới trong Báo độ của chư Phật, Lục đạo Luân
hồi, [là] do Thức biến. Tâm hiện, Thức biến, đã nói rõ ràng, nói viên mãn rồi. Trăm
ngàn ức cõi nước Phật ấy quá nhỏ, không hề rời khỏi Tâm Tánh của chúng ta.
Trong Kinh Lăng Nghiêm
nói một tỷ dụ, đó là do đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói, mười phương Hư không Pháp
giới: là trong tâm của chúng ta mà sanh ra, sanh ở trong tâm của chúng ta, lớn
bao nhiêu? Tâm của chúng ta giống như Hư không rộng lớn, mười phương Hư không: cũng
giống như vầng mây trong không gian vũ trụ. Quý vị sáng tỏ đạo lý này, hiểu rõ
chân tướng sự thật này, Niệm lão nói ‘nào có xa chứ?’ Nên biết, ở trong Tâm
Tánh, không có khoảng cách, không có khoảng cách chính là không có không gian, không
có trước sau, không có thời gian. Thời gian, không gian: đều là từ nhận thức
sai lầm của phàm phu mà sanh ra, không phải là thật. Tự Tánh không hề đối lập với
bất cứ một pháp nào, hơn nữa bất cứ một pháp nào cũng là Tự Tánh: Thể đó, Bản thể
đều là Tự Tánh, không hề rời khỏi Tự Tánh, ngay đây như vậy, Thế giới Cực Lạc
cũng như vậy, cõi nước chư Phật mười phương cũng như thế, không có ngoại lệ. Với
đạo lý này: nếu chúng ta làm rõ ràng, làm sáng tỏ, thì mới có thể sanh khởi niềm
tin đối với Thế giới Cực Lạc.
Tiếp theo dẫn Kinh
Quán Vô Lượng Thọ, nói rằng: 故《觀經》曰:阿彌陀佛,去此不遠 “Cố Quán Kinh viết: A Mi
Đà Phật, khứ thử bất viễn” (Bởi trong Quán Kinh nói: A Mi Đà Phật,
cách nơi này không xa), cũng là do đức Phật Thích
Ca Mâu Ni nói. Tại sao lại nói như thế? Bởi 實因 “thật nhân” (nhân chân thật), chính là nhân
chân chánh, 本在眾生各各自心之內也 “bổn tại chúng sanh các các tự tâm chi nội
dã” (vốn là ở nội tâm của chính mỗi chúng
sanh), không ở ngoài tâm. Phải hiểu rõ, tâm lượng của chúng ta chứa Hư
không Pháp giới, tâm lượng quá lớn rồi, không phải chứa Hư không Pháp giới của
một vị Phật, mà là chứa Hư không Pháp giới của vô lượng vô biên chư Phật. Không
có pháp nào rời khỏi tâm, đều ở trong tâm, không ở ngoài tâm, cho nên nói: 心外無法,法外無心 “Tâm ngoại vô pháp, pháp
ngoại vô tâm” (Ngoài tâm không có
pháp, ngoài pháp không có tâm). ‘Ngoài pháp không có tâm’ nghĩa là gì? Pháp
chính là tâm, tâm biến thành pháp, pháp chính là tâm, pháp là ảo tướng, giống
như nằm mộng vậy. Thêm nữa trong Mi Đà Sớ Sao, Đại sư Liên Trì nói: 分明在目前,亦何嘗遠 “Phân minh tại mục tiền,
diệc hà thường viễn” (Rõ ràng ở trước mắt,
cũng nào từng xa cách). Điều này do Đại sư Liên Trì
nói, thấu triệt nguồn tâm. Các ngài ấy đều là bậc đại Bồ-tát Minh tâm Kiến
tánh, không phải Minh tâm Kiến tánh: thì không nói ra lời này được. Dựa theo những
cách nói đó, Thế giới Cực Lạc, thật sự cách không xa với chúng ta, trăm ngàn ức
cõi nước Phật [là] rất gần.
有世界名曰極樂 “Hữu Thế giới danh viết Cực
Lạc” (Có Thế giới tên là Cực Lạc), Đại
sư Ngẫu Ích đặc biệt chỉ ra chúng ta chú trọng chữ有 “hữu” (có), thật
có, không phải giả có, cũng giống như cõi nước của vô lượng vô biên chư Phật
trong mười phương. Chúng ta cư trú ở nơi đây, cõi nước của đức Phật Thích Ca
Mâu Ni, Tam thiên Đại thiên Thế giới của Ta Bà, là giáo khu của đức Phật Thích
Ca, nếu nói chúng ta thừa nhận chúng ta đây là thật, thì Thế giới Cực Lạc cũng
là thật; Ta nói chúng ta đây là giả, vậy thì Thế giới Cực Lạc cũng là giả. Chúng
ta xem Kinh Vô Lượng Thọ rồi, chúng ta mới thật sự biết được, Thế giới Cực
Lạc: không khác với Thế giới này của chúng ta, đó là do tâm hiện. Tâm hiện là
cõi Thật Báo Trang Nghiêm, cõi Thường Tịch Quang trong cõi nước của chư Phật,
đó là do tâm hiện. Cõi Phương Tiện Hữu Dư, cõi Phàm Thánh Đồng Cư là do thức biến,
A-lại-da biến, biến như thế nào? Biến cõi Thật Báo thành Mười pháp giới, ở
trong Mười pháp giới lại biến thành Lục đạo Luân hồi, thức biến. Nhưng cõi
Phương Tiện và cõi Đồng Cư của Thế giới Tây Phương Cực Lạc đều là cõi Pháp
tánh, cũng chính là nói: bốn cõi của Thế giới Cực Lạc đều là cõi Pháp tánh, đều
là tâm hiện, không có thức biến. Cho nên Thế giới ấy là vô lượng thọ, Thế giới ấy
với cõi Đồng Cư, Phương Tiện của mười phương chư Phật là không như nhau. Đó là
điều mà mười phương Thế giới không có, chỉ có ở Thế giới Cực Lạc, sự thù thắng
của Thế giới Cực Lạc: là xem từ chỗ này.
Tiếp theo nói với chúng
ta: 世指時間,過去、現在與未來,所謂三世也 “Thế chỉ thời gian, quá
khứ, hiện tại dữ vị lai, sở vị tam thế dã” (‘Thế’ chỉ thời gian, quá khứ, hiện tại và vị lai, được gọi là ba đời).
Ba đời là thời gian, là giả, không phải là thật. 界 “Giới”, chữ ‘giới’ là nói về không gian, 疆界,指空間,即四維上下,所謂十方 “cương giới, chỉ không
gian, tức tứ duy thượng hạ, sở vị thập phương” (‘cương giới’, chỉ không gian, tức là bốn
phương và trên dưới, được gọi là mười phương). Mười phương này là bốn phương, tứ duy: (‘tứ duy’ là bốn góc), phương
trên, phương dưới, đó gọi là mười phương. 合時與空,故稱世界 “Hợp thời dữ không, cố
xưng Thế giới” (Hợp thời gian với không
gian, nên gọi là Thế giới). Cho nên, hai chữ ‘Thế
giới’: là nói thời gian và không gian, ‘thế’ là nói thời gian, ‘giới’ là nói
không gian. 極樂,梵語須摩提 “Cực Lạc, Phạn ngữ
Tu-Ma-Đề” (Cực Lạc, tiếng Phạn là Tu-Ma-Đề),
Thế giới Cực lạc, khi dịch sang ý nghĩa của nước ta: có rất nhiều cách dịch, có
khi được dịch là: 安樂 “An lạc”, 安養 “an dưỡng”, 清泰 “thanh thái” (thanh tịnh an vui). 《彌陀要解》謂極樂乃永離眾苦,第一安隱之謂 “Mi Đà Yếu Giải vị Cực Lạc
nãi vĩnh ly chúng khổ, đệ nhất an ẩn chi vị” (Trong Mi Đà Yếu Giải nói: ‘Cực Lạc’ là mãi xa rời các khổ, nghĩa là an
ổn bậc nhất), gọi là Cực Lạc. Cực Lạc dịch ý là Tu-Ma-Đề, dịch theo phương
diện ý nghĩa, không phải là dịch theo âm. Trong Mi Đà Sớ Sao nói: 顯至極之樂,非人天一切諸樂之比 “Hiển chí cực chi lạc,
phi nhân thiên nhất thiết chư lạc chi tỉ” (Hiển bày sự an lạc tột cùng, chẳng phải tất cả các niềm vui của trời
người mà sánh được). Nên tên là Cực Lạc. Điều này đã nói rõ ràng: danh từ
‘Thế giới Cực Lạc’ cho chúng ta. Chữ ‘lạc’ này thì chúng ta không cách nào tưởng
tượng được, đó là không thể nghĩ bàn, quý vị không tưởng tượng được. Tổ sư Đại
đức nói rất hay, vì sao gọi là Cực Lạc? Bởi trong cõi nước chư Phật Pháp giới
mười phương: có khổ có vui, Thế giới Cực Lạc là có vui không có khổ. Khổ trong
Thế giới này của chúng ta, sự khổ, nhân khổ, quả khổ, không tìm được ở Thế giới
Cực Lạc, cũng không tìm được ở trong cõi nước chư Phật mười phương, nên gọi đó
là Cực Lạc.
Chúng ta lại xem đoạn tiếp
theo: 諸佛國土,隨機所感,有四種土 “Chư Phật quốc độ, tuỳ cơ
sở cảm, hữu tứ chủng độ” (Cõi nước chư Phật,
tùy theo sự cảm của các căn cơ, nên có bốn cõi). ‘Cơ’ là căn khí của chúng
sanh khác nhau, bốn cõi, chính là được cảm bởi bốn dạng người căn tánh khác
nhau, đầu tiên là cõi Thường Tịch Quang. 經云:毘盧遮那 “Kinh vân: Tỳ Lô Giá Na” (Trong kinh nói: Tỳ Lô Giá Na), Tỳ
Lô Giá Na là tiếng Phạn, nghĩa là遍一切處 “biến nhất thiết xứ” (khắp tất cả nơi). Thường Tịch
Quang ở nơi đâu? Chúng ta đều ở ngay trong Thường Tịch Quang, chưa từng rời khỏi
Thường Tịch Quang, Thường Tịch Quang là Bản thể, rời khỏi Thường Tịch Quang thì
không có hiện tượng. 其佛住處 “Kỳ Phật trụ xứ” (Trụ xứ của đức Phật ấy), đó là đức
Tỳ Lô Giá Na, trụ xứ của đức Phật Tỳ Lô Giá Na là Thường Tịch Quang. Quý vị
xem: 是極果人所居 “Thị cực quả nhân sở cư” (Là nơi cư trú của người [có] quả vị
cao nhất). Trong Tịnh tông, trên Đẳng giác là Diệu Giác, Diệu Giác trụ
trong Thường Tịch Quang, Thường Tịch Quang là Tự Tánh viên mãn; Nói cách khác,
chứng đến rốt ráo viên mãn: chính là quay về Thường Tịch Quang.
Thường Tịch Quang không
sanh không diệt, năm câu mà ngài Lục tổ Huệ Năng nói, chính là miêu tả về Thường
Tịch Quang, Thường Tịch Quang là như thế nào? Thanh tịnh, nhất định không có ô
nhiễm, chúng ta cũng không cách nào tưởng tượng được sự thanh tịnh ấy; Không sanh
không diệt; Vốn tự đầy đủ, đầy đủ vô lượng trí huệ, vô lượng đức năng, vô lượng
tướng hảo. Nói cụ thể hơn, chính là cõi nước của tất cả chư Phật: trong khắp
Pháp giới Hư không giới, đều là do Thường Tịch Quang biến hiện ra, Thường Tịch
Quang có thể sanh có thể hiện. Thông thường chúng ta không dùng danh từ này để
nói, sợ mọi người sanh ra sự hiểu lầm, Thường Tịch Quang không có sanh diệt, bất
sanh bất diệt, mà có ẩn hiện. Chúng sanh trong Mười pháp giới, nếu tạo ra tội
nghiệp Ngũ nghịch Thập ác: thì sẽ đọa vào Địa ngục Vô Gián, Địa ngục Vô Gián do
đâu mà có? Là do Thường Tịch Quang biến hiện ra. Rời khỏi Thường Tịch Quang,
thì không lập một pháp, không có pháp nào cả. Nếu người chúng ta tu Ngũ giới Thập
thiện, người nước ta nói là luân lý đạo đức, thì Thường Tịch Quang sẽ biến
thành cõi người, cõi người trong sáu đường. Nếu chúng ta tiến thêm bước nữa, tu
Ngũ giới Thập thiện, Tứ vô lượng tâm từ bi hỉ xả, thì chúng ta lên cấp, Thường
Tịch Quang sẽ biến thành cõi trời.
Nên nhớ, Thường Tịch
Quang có thể biến có thể hiện, chúng ta nêu tỉ dụ, mọi người sẽ dễ hiểu hơn.
Tivi đặt ở trước mắt chúng ta, hình ảnh bên trong tivi: đó chính là Mười pháp
giới, Thường Tịch Quang là gì? Là màn hình của tivi. Tất cả hình ảnh đều từ
trên màn hình hiện ra, màn hình cũng không có thứ gì, một mảng trống không, đó
là Thường Tịch Quang, đó là Bản thể, đó là Pháp thân. Vì vậy chứng được Pháp
thân, phá một phẩm Vô minh, chứng một phần Pháp thân, thì quý vị đến cõi Thật
Báo Trang Nghiêm rồi. Cõi Thật Báo Trang Nghiêm đến từ đâu? Do Thường Tịch
Quang biến. Đạt đến cứu cánh viên mãn, ngay cả Tập khí của Vô thủy Vô minh cũng
được đoạn sạch sẽ, thì quý vị trở về Thường Tịch Quang rồi, trở về Thường Tịch
Quang chứng quả vị Phật rốt ráo viên mãn. Cho nên, đó là ‘nơi cư trú của người
có quả vị cao nhất’, chứng quả chứng đến địa vị cao nhất, không còn bậc nào cao
hơn nữa, thì các Ngài đã trở về Thường Tịch Quang. Trong Thường Tịch Quang
không có hình tướng, không có hiện tượng vật chất, cũng không có hiện tượng ý
niệm, cũng không có gì gọi là hiện tượng tự nhiên, không có điều gì cả, cho nên
gọi là Thường Tịch Quang. Gặp được duyên liền hiện hướng, liền có thể sanh có
thể hiện, vì thế Thường Tịch Quang có ẩn hiện, không có sanh diệt, hiện tướng
[chứ] không sanh, khi không hiện [là] không diệt, không có sanh diệt. Có duyên
thì hiện, hoàn toàn xem chính chúng ta, ý niệm của chính chúng ta, có niệm đều
[là] từ cõi Phương Tiện trở xuống, tức là cõi Đồng Cư, cõi Phương Tiện, chúng
ta vẫn còn ý niệm, ý niệm chính là A-lại-da, chính là Thức. Không còn ý niệm nữa,
khi không còn ý niệm: là không khởi tâm, không động niệm, vậy thì sâu hơn một tầng,
sẽ đến cõi Thật Báo. Cõi Thật Báo, [là] Pháp giới bình đẳng.
Cõi Thật Báo của chư Phật
Như Lai: và cõi Thật Báo của Thế giới Cực Lạc là tương đồng, vậy tại sao Pháp
thân Bồ-tát: còn cầu sanh Thế giới Cực Lạc? Đây là bởi nguyện lực của chư Phật
Như Lai và đức Mi Đà Như Lai khác nhau, chúng ta có thể lý giải, có thể tưởng
tượng được. Cõi Thật Báo Trang Nghiêm trong cõi nước mười phương, giống như cõi
Thật Báo Trang Nghiêm của đức Phật Thích Ca Mâu Ni: là Thế giới Hoa Tạng, trong
Kinh Hoa Nghiêm nói, sau khi phá Vô minh sẽ sanh đến cõi ấy. Ở trong cõi
Thật Báo, có cấp bậc, 41 địa vị Pháp thân Đại sĩ ở Báo độ. Nếu nương vào chính
mình, thì thời gian rất dài, ba a-tăng-kỳ kiếp, đoạn hết Tập khí của Vô minh, mới
có thể rời khỏi Đẳng giác nâng lên đến Diệu Giác, hồi quy Thường Tịch Quang. A
Mi Đà Phật có nguyện lực, 48 nguyện gia trì: Pháp thân Đại sĩ trong Báo độ, các
ngài sẵn lòng thân cận A Mi Đà Phật, bởi vì cõi Thật Báo Trang Nghiêm của Thế
giới Cực Lạc, là Báo thân của A Mi Đà Phật: đang chủ trì giáo hóa ở nơi đó, trí
huệ đức năng của A Mi Đà Phật: khiến đại chúng vô cùng kính ngưỡng, mong muốn
được thân cận Ngài. Tôi tin đó là nguyên nhân đầu tiên. Không phải vì nguyên
nhân này, thì Báo độ đó đều là như nhau, có nguyên nhân như vậy, nên Báo độ của
Thế giới Cực Lạc: vượt hẳn Báo độ của mười phương chư Phật. Đó là cõi Thường Tịch
Quang.
Lại xem tiếp điều thứ
hai. Thứ hai là: 實報莊嚴土。行真實法,感殊勝報 “Thật Báo Trang Nghiêm độ.
Hành chân thật pháp, cảm thù thắng báo” (Cõi
Thật Báo Trang Nghiêm. Hành pháp chân thật, cảm báo thù thắng). Cõi Thật
Báo Trang Nghiêm đến như thế nào? Bốn chữ phía trước quan trọng, ‘hành pháp
chân thật’. Trái với điều chân thật là sự hư ngụy. Trong xã hội hiện nay, có một
số người nói với tôi, người giả quá rồi, giả lắm rồi! Lời này chính là gì? Người
đều là giả dối, không có chút thành ý nào cả, gặp người cười hihi đều là lừa
quý vị, đều là đùa giả thôi, không ai đùa thật đâu, chính là ý nghĩa như vậy. Lời
nói này do đâu mà có? Chúng ta nghĩ xem quá khứ, không cần nghĩ xa lắm, người
Trung Hoa nói Giáp, là 60 năm, hiện tại [với] 60 năm đổ về trước, xã hội của 60
năm trước, mối quan hệ giữa người với người trong 60 năm trước, chúng tôi nhớ rất
rõ ràng. Có giả hay không? Có, giả nhưng không nhiều, người thật thà nhiều, người
lừa người ít. Đặc biệt là hai ngành nghề, ngành nghề đầu tiên là ăn uống, xác
thực là thật, nhất định không pha trộn đồ giả, cho nên hương vị món ăn mà quý vị
dùng sẽ khác. Bây giờ thức ăn ở hàng quán bên ngoài: chúng tôi sợ tới mức không
dám ăn, nghe nói dầu [được chế biến] từ dầu thải ra, gia vị cũng là dùng hóa chất
để thay thế, giá thành rẻ, khiến người nơm nớp lo sợ. Nghề thứ hai là y tế, người
làm bác sĩ tốt, tuyệt đối không bán thuốc giả, họ có lương tâm. Huống chi bác
sĩ là cứu mạng, chữa bệnh cứu người, chi phí thuốc men, lấy lời cũng chẳng qua
là lấy một-hai đồng. Không như hiện nay, hiện nay phải lấy thêm gấp bao nhiêu lần,
cho nên buôn một lãi mười, thế còn được nữa sao?
Vì vậy, chúng ta nói giả,
thì từ chỗ này có thể lãnh hội được, sẽ lãnh hội được rất sâu. Vì sao người hiện
giờ lại trở nên như thế? Bởi giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả: hoàn toàn
không còn nữa. Đều tin rằng chính mình có bản lĩnh, bản lĩnh gì? Có thể lừa gạt
người, đó chính là bản lĩnh, đó chính là trí huệ của họ, đó chính là thủ đoạn
cao minh của họ. Họ chỉ cần tiền, mặc kệ sự sống chết của người khác, quý vị sống
chết là chuyện của quý vị, không liên can với tôi, chỉ cần tôi phát tài, thì đạt
được mục đích của tôi rồi. Quý vị nói đáng sợ biết bao!
Ngàn vạn năm nay của nước
ta, cổ Thánh tiên Hiền dạy chúng ta làm người, chỉ một câu, bằng lương tâm.
Lương tâm là Chân Tâm, Chân Tâm chính là lương tâm, vì thế Bản tánh vốn thiện,
‘thiện’ chính là thiện lương. Bất luận ở nơi đâu, tuyệt đối sẽ không khởi tâm động
niệm để hại người, để lừa người, thì lẽ đâu có sự việc như vậy? Thánh hiền, Tổ
tiên dùng Ngũ đức để dạy chúng ta, năm chữ: Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín. 仁 “Nhân” là dạy chúng ta thương người, đặt mình vào người khác, nghĩ đến mình nhất
định cũng phải nghĩ đến người khác, tôi không mong muốn người khác hại tôi, thì
tôi nhất định không được hại người khác, 己所不欲,勿施於人 “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mình không muốn, chớ làm cho người),
[đây là] đức hạnh đầu tiên. Thứ hai là義 “Nghĩa”, giải thích đơn giản về ‘Nghĩa’: chính là
hợp tình, hợp lý, hợp pháp, khởi tâm động niệm, lời nói việc làm: đều phải nghĩ
đến tình, lý, pháp. Phải giữ gìn trọn vẹn, chính là Nghĩa, Nghĩa là cần phải
làm, dám làm việc nghĩa, xả mình vì người. Thứ ba là禮 “Lễ”, hiện tại không còn nữa, hiện tại Nhân,
Nghĩa không còn, Lễ cũng không còn. ‘Lễ’ là gì? Lễ là thành kính, câu đầu tiên
trong Lễ Ký: 曲禮曰,毋不敬 “Khúc Lễ viết, vô bất
kính” (Khúc Lễ ghi: Chẳng có gì không thành
kính). Đối với người phải thành kính, đối với vật phải thành kính, đối với
vạn vật trong trời đất đều phải thành kính, thì quý vị làm sao lại đi hại người?
智 “Trí” là lý trí, không thể làm việc theo tình cảm, điều này rất quan trọng, làm
việc theo tình cảm sẽ làm hỏng việc thôi, phải dùng lý trí. Điều cuối cùng là信 “Tín”, có chữ tín, tín thì không vọng ngữ, không lừa gạt người. Thánh nhân thế
gian và xuất thế gian đều nói với chúng ta, người có thể làm tốt năm chữ này,
thì đời sau sẽ không mất thân người. Nếu làm được tốt hơn, thì họ sẽ sanh
thiên.
Cõi trời có 28 tầng, tầng
trên thù thắng hơn tầng dưới, bởi vì cõi trời rất gần, nên người có niềm tin
vào thiên đạo, còn Thế giới Cực Lạc quá xa rồi, nên không dám phát tâm, là xuất
hiện vấn đề ở chỗ này. Nếu chúng ta từ Tâm Tánh mà nói, thì không có khoảng
cách, không có xa gần, không có lớn nhỏ, không gian không có lớn nhỏ, thời gian
không có xa gần, thì niềm tin cầu sanh Thế giới Cực Lạc của chúng ta: liền sanh
khởi rồi, điều này quan trọng hơn bất cứ điều gì! Đại sự hàng đầu ngay trong cuộc
đời của mỗi người. Đó là gì? Là vấn đề mà vô lượng kiếp đến nay quý vị không thể
giải quyết, trong đời này quý vị đều giải quyết rồi, sanh đến Thế giới Cực Lạc
được đại tự tại.
Quý vị xem, ‘Hành pháp
chân thật, cảm báo thù thắng’. Ba nhà Nho Phật Đạo: đều khuyên chúng ta phải
‘hành pháp chân thật’, chư Phật Như Lai, Bồ-tát, La-hán: cũng khuyên chúng ta
‘hành pháp chân thật, cảm báo thù thắng’. Tịnh tông của chúng ta, pháp chân thật
của Tịnh tông là gì? Tín nguyện trì danh, là pháp đơn giản, chân thật. Trong
tâm thường niệm A Mi Đà Phật, không nên có tạp niệm, không nên có Vọng tưởng.
Ngay trong hoàn cảnh sống của chúng ta, ở nhà có cha mẹ, có anh chị em, có bằng
hữu thân thuộc, họ có [người] tin Phật, không sâu, có [người] không tin Phật, rất
quan tâm quý vị, chăm sóc quý vị rất chu đáo, sự quan tâm, chu đáo ấy: đều là
chướng ngại của Phật pháp. Vậy phải làm sao? Phải hằng thuận chúng sanh, để cho
họ hoan hỉ, trong tâm của chính mình, trong tâm chỉ A Mi Đà Phật, điều này quan
trọng. Trong tâm ta niệm Phật cũng không cần nói với họ, cũng không cần để cho
họ biết, niệm thầm trong tâm, nói gì cũng tốt, chỉ cần không phải là việc xấu đều
tán thán, nhưng chính mình phải giữ gìn miên mật câu Phật hiệu.
Họ cần chứ chúng ta không
cần, điều chúng ta cần thì họ không nghĩ đến, đợi đến khi chúng ta vãng sanh,
làm tấm gương cho họ xem, họ thấy được rồi họ sẽ cảm động. Hóa ra niệm Phật ra
đi tốt như thế, không sanh bệnh, biết trước thời gian, nói đi là đi, thì họ động
tâm rồi. Do nghiệp chướng nặng, dù thấy được dáng vẻ như thế, họ cũng không động
tâm, vẫn làm danh văn lợi dưỡng của họ, đó là nghiệp chướng quá nặng rồi! Chúng
ta có thấy được không? Có, những người xung quanh người tự tại vãng sanh ấy:
chúng ta đều thấy được. Có phước báo, nghiệp chướng nhẹ, thì tin rồi, cảm động
rồi; Nghiệp chướng rất nặng, thì không được, một-hai lần họ cũng không thể quay
đầu, họ còn muốn tạo ác. Chúng ta thấy được hiện tượng này, phải nhắc nhở chính
mình, dụng công nỗ lực hơn nữa, tại sao vậy? Bởi không đến Thế giới Cực Lạc thì
không được, riêng không biết thì không cần nói tới, còn biết rồi thì làm sao có
thể không đi? Bất cứ thế lực nào cũng không thể ngăn cản, nhất định vãng sanh.
Tiếp theo, câu ‘cảm báo
thù thắng’, đó là nói chung, kế nữa là nêu vài thí dụ. 七寶莊嚴,具淨妙五塵 “Thất bảo trang nghiêm, cụ
tịnh diệu Ngũ trần” (Bảy báu trang
nghiêm, Ngũ trần đầy đủ sự vi diệu thanh tịnh). Ngũ trần là gì? Sắc, thanh,
hương, vị, xúc, hoàn toàn là chỉ thân thể của chúng ta, sự hưởng thụ, hưởng phước
trên thân thể là năm chữ này. Hưởng thụ của mắt chính là sắc, hưởng thụ của tai
chính là âm thanh, hưởng thụ của mũi chính là mùi hương, hưởng thụ của lưỡi
chính là mỹ vị, đều là những việc này. [Đến] Thế giới Cực Lạc, điều mà thân quý
vị hưởng thụ là Ngũ trần vi diệu thanh tịnh, là thanh tịnh, là vi diệu, không
như ở đây, ở đây là ô nhiễm. Hiện tại ở nơi đây, năm loại đó đều là ô nhiễm,
hơn nữa là sự ô nhiễm nghiêm trọng. 亦云無障礙土 “Diệc vân vô chướng ngại
Độ” (Cũng nói rằng: Cõi nước không có chướng
ngại). Nơi này của chúng ta có quá nhiều chướng ngại, Thế giới Cực Lạc
không có chướng ngại; Không có chướng ngại, xứng tâm như ý, lời mà chúng ta để
khen ngợi người khác: là tâm tưởng sự thành. Xứng tâm như ý, tâm tưởng sự
thành: là Thế giới Cực Lạc, đến Thế giới Cực Lạc, thì hai câu này là thật,
không phải là giả, vì sao vậy? Vì 色心不二 “Sắc Tâm bất nhị” (Sắc và Tâm không hai). Người ở nơi
đây của chúng ta làm không được, đây là chân tướng sự thật.
Sắc là gì? Là vật chất;
Tâm là gì? Là tinh thần, tâm lý. Hiện tại ở thế giới này của chúng ta, đem Sắc
và Tâm chia ra, tức là môn Vật lý, Tâm lý: được dạy trong trường học hiện nay;
Vật lý là Sắc pháp, Tâm lý là Tâm pháp. Mãi đến thời cận đại, Cơ học Lượng tử mới
phát hiện: hướng đi sai lầm này của khoa học trong 400 năm qua, sự sai lầm đó
chính là gì? Là hai cách chia, hai cách chia là sai lầm, tách vật chất ra khỏi
tinh thần, chia thành hai pháp. Không ngờ rằng: Sắc Tâm là một, không phải là
hai, Tâm có thể sanh, có thể hiện, có thể biến; Sắc là được sanh, được hiện, được
biến, Sắc chính là hiện tượng vật chất. Bí mật của vũ trụ này, đã được nhà khoa
học phơi bày. Nhà khoa học phát hiện Neutrino rồi, đó là sự việc trong 20 năm gần
đây, thấy được sau khi Neutrino bị phá vỡ: thì không thấy gì nữa, liền biến
thành hư không, không còn hiện tượng vật chất nữa. Lại xem, thì thấy điều gì?
Thấy được là hiện tượng sóng dao động của ý niệm, từ đó mới hiểu ra, hiện tượng
vật chất: là huyễn tướng từ hiện tượng sóng dao động của ý niệm sanh ra.
Nhà khoa học nói với
chúng ta, dựa vào sự phát hiện này, có thể nói tất cả hiện tượng vật chất trên
thế giới này của chúng ta đều là giả, không phải là thật; Thậm chí nói rằng, thế
gian này căn bản là không có sự tồn tại của những thứ vật chất đó, lời này, nói
rất là chính xác. Hiện tượng vật chất tồn tại trong thời gian bao lâu? Nhà khoa
học nói với chúng ta, rất nhanh, nhanh đến không cách nào tưởng tượng được, quý
vị nói chúng sanh thì chúng đã diệt rồi, sanh diệt với không sanh diệt dường
như đồng thời tồn tại. Vì sao chúng ta nhìn thấy chúng như đang tồn tại? Bởi đó
là sự chồng chất lên nhau của rất nhiều lớp ảo tướng, là một dạng tương tự liên
tục, thấy được là như thế. Nếu một hình ảnh duy nhất thôi mà nói, thì chúng ta
nhất định không thấy được. Dù ở trước mắt chúng ta, hết sức chú ý quý vị cũng
không thấy được, tốc độ quá nhanh rồi, mắt của chúng ta không thấy được. Nhanh
đến mức độ thế nào? Trong kinh Phật có, từ trong kinh Phật chúng ta thấy được,
Bồ-tát Di Lặc nói với chúng ta, một khảy ngón tay sanh diệt bao nhiêu lần? 320
ngàn tỷ, trong một khảy ngón tay. 320 ngàn tỷ lần sanh diệt đó: mới là một khảy
ngón tay, [thì đối với] một lần sanh diệt, chúng ta làm sao có thể nắm bắt được?
Một giây có thể khảy bảy lần, 320 ngàn tỷ nhân bảy, một giây, một giây hiện tượng
vật chất sanh diệt bao nhiêu lần? 2 triệu 240 ngàn tỷ lần. Vì vậy nhà khoa học
nói, trên thế giới này: căn bản không có sự tồn tại của hiện tượng vật chất, là
chính xác.
Chúng ta lại xem câu tiếp
theo: 毛剎相容故。是法身大士所居 “Mao
sát tương dung cố. Thị Pháp thân Đại sĩ sở cư” (Việc sợi lông và cõi nước dung chứa lẫn
nhau. Là nơi cư trú của Pháp thân Đại sĩ). [Về] Pháp thân Đại sĩ, trong Kinh
Hoa Nghiêm nói: [là] Viên giáo Sơ trụ trở lên, Sơ trụ Bồ-tát: phá một phẩm
Vô minh, chứng một phần Pháp thân. Vô minh có 41 phẩm, cho nên Pháp thân Đại sĩ
ở cõi Thật Báo: là có 41 vị thứ, các ngài đều trụ trong cõi Thật Báo, chính là
10 bậc Trụ, 10 bậc Hạnh, 10 bậc Hồi hướng, 10 bậc Địa, là 40 bậc, và Đẳng giác,
[là] 41 bậc. Các ngài trụ ở nơi ấy: chính là cần phá Vô minh, không cách nào để
phá Vô minh, quý vị cần phá Vô minh, quý vị khởi tâm động niệm rồi, không khởi
tâm, không động niệm, không cách nào để phá. Ngài ở cõi Thật Báo. Thật sự là
sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần: không có Khởi tâm Động niệm, Khởi tâm Động
niệm còn không có, thì đương nhiên không có Phân biệt Chấp trước rồi. Thế giới
Cực Lạc không có người Phân biệt Chấp trước, chưa phá Vô minh, thì trụ ở cõi
Phương Tiện Hữu Dư, phá Vô minh mới có thể trụ cõi Thật Báo. Chúng ta xem trong
kinh: đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói rõ với chúng ta, Thế giới Cực Lạc: có 41 địa
vị Pháp thân Đại sĩ không? Có, có Đẳng giác Bồ-tát. Tuy là các ngài có cấp bậc
như vậy, nhưng mỗi người vãng sanh Thế giới Cực Lạc, thì sự đãi ngộ ở Thế giới
Tây Phương Cực Lạc là bình đẳng, sự đãi ngộ đó là gì? Trí huệ, đạo lực, thần
thông, thọ dụng: hoàn toàn bình đẳng.
Thứ nhất là thân thể, thể
chất hoàn toàn tương đồng với A Mi Đà Phật, thân sắc vi diệu. Không phải là bằng
da thịt như chúng ta đây, đó là hiện tượng vật chất, Ngài không phải là hiện tượng
vật chất, mà Ngài là Pháp tánh, thân Pháp tánh, cư trú ở cõi Pháp tánh. Pháp
tánh, đó là như Đại sư Huệ Năng đã nói, năm câu của ngài chính là nói về Pháp
tánh, Pháp tánh thanh tịnh, không có ô nhiễm, Pháp tánh không sanh không diệt,
Pháp tánh như như bất động, Pháp tánh có thể sanh vạn pháp. Thân Pháp tánh, cõi
Pháp tánh, hoàn cảnh cư trú là cõi Pháp tánh, thân là thân Pháp tánh. Nói thân
Pháp tánh, nói với chư vị: chính là Pháp thân được nói trong Thường Tịch Quang,
là thật chứ không phải là giả. Đó là sự gia trì của 48 nguyện, công đức tu học
vô lượng kiếp của A Mi Đà Phật, mỗi một thiện hữu vãng sanh, kể cả vãng sanh Hạ
hạ phẩm trong cõi Đồng Cư: đều ở trong đó, đến Thế giới Cực Lạc làm A-duy-Việt-trí
Bồ-tát, A-duy-Việt-trí chính là bình đẳng rồi. A-duy-Việt-trí là viên mãn chứng
được ba loại Bất thoái, Vị bất thoái, ở nơi này của chúng ta, A-la-hán chứng được;
Hạnh bất thoái, Bồ-tát chứng được; Niệm bất thoái, Pháp thân Bồ-tát chứng được.
Ở Thế giới Cực Lạc, chỉ cần vừa đến Thế giới Cực Lạc, thì mỗi người thảy đều là
tam Bất thoái. Vì vậy, chư Phật Như Lai: không Ngài nào mà không tán thán A Mi
Đà Phật, xưng tán Ngài đến tột cùng: 光中極尊,佛中之王 “Quang trung cực tôn, Phật trung chi vương” (Tôn quý nhất trong các ánh sáng, vua
trong chư Phật).
Tiếp theo đây còn có một
câu: 毛剎相容 “Mao
sát tương hợp” (Sợi lông và cõi nước
dung chứa lẫn nhau). ‘Sắc Tâm không hai’: Thế giới Cực Lạc đã làm được rồi,
khoa học của thế giới chúng ta: thật sự chỉ mới manh nha. Không tệ, phát hiện Sắc
Tâm không hai là chân thật, chia Sắc và Tâm ra là sự sai lầm, khoa học của
chúng ta xuất hiện rất nhiều sai lầm, chính là từ khái niệm này mà sanh ra.
Không thể phân chia, Duy tâm, Duy vật là một sự việc, chia thành hai sự việc,
liền phát sinh vấn đề rồi, ở Thế giới Cực Lạc, Sắc và Tâm là một không phải là
hai. ‘Mao Sát tương hợp’, ‘mao’ là lông tơ, đầu lông tơ, lông tơ ở trên thân,
phía đầu nhọn rất nhỏ; ‘Sát’ là gì? ‘Sát’ là cõi Phật, phía trước nói là Tam
thiên Đại thiên Thế giới. Nếu như điều này không thuận tiện lắm, vậy thì quý vị
nhớ một cách nói khác, 1 tỉ hệ ngân hà. 1 tỉ hệ ngân hà, [là] giáo khu của một
vị Phật, khu vực giáo hóa của Ngài: gọi là một Tam thiên Đại thiên Thế giới, 1
tỉ hệ ngân hà lớn như vậy. Sợi lông nhỏ, cõi nước lớn, nhưng sợi lông có thể chứa
cõi nước, trên đầu nhọn sợi lông này của ta: có thể chứa 1 tỉ hệ ngân hà. Cõi
nước chứa sợi lông thì mọi người hiểu được, không cần phải nói, [chứ] sợi lông
chứa cõi nước thì khó, nhưng đó là thật, không phải là giả. Vì sao vậy? Vì Pháp
chỉ cần vừa xứng Tánh, thì không còn đối lập. Lớn nhỏ là đối lập, lớn có thể chứa
nhỏ, nhỏ không thể chứa lớn; Không còn đối lập nữa, thì lớn chứa được nhỏ, nhỏ
cũng chứa được lớn. Quý vị xem, Sắc Tâm không hai: thì sợi lông cõi nước có thể
dung chứa lẫn nhau. Đó là hoàn cảnh sinh sống, đạo tràng tu học của các vị Pháp
thân Đại sĩ.
Thứ ba, 方便有餘土。斷四住惑,屬方便道,無明未盡,名曰有餘 “Phương Tiện Hữu Dư độ. Đoạn Tứ trụ hoặc,
thuộc Phương Tiện đạo, Vô minh vị tận, danh viết Hữu Dư” (cõi Phương Tiện Hữu Dư. Đoạn Tứ trụ hoặc,
thuộc cõi
Phương Tiện, chưa đoạn Vô minh, gọi là Hữu Dư). Ngũ trụ Phiền não, phiền não được chia làm
năm loại lớn, đã không còn bốn loại lớn, chỉ còn lại một loại, loại đó là gì?
Vô minh, chưa đoạn Vô minh. Bình thường chúng ta nói, nói đơn giản hơn điều này
một chút, nhưng nội dung hoàn toàn như nhau, thông thường chúng ta nói: Vô minh
Phiền não, Trần sa Phiền não, Kiến tư Phiền não, chúng ta chia làm ba loại lớn,
chia nhỏ là năm loại lớn, Ngũ trụ Phiền não. Chưa đoạn Vô minh, nên gọi là Hữu
Dư. Các ngài trụ ở cõi Phương Tiện Hữu Dư, chính là cõi Phương Tiện, Phương Tiện
Hữu Dư độ. 三乘聖人所居 “Tam thừa Thánh nhân sở cư” (Nơi cư trú của Thánh nhân Tam thừa), Tam
thừa này, [ngoài] Tiểu thừa A-la-hán, ở đây còn có Duyên giác, là tầng ở giữa,
đi lên phía trên, [là] Bồ-tát, Bồ-tát ấy chưa kiến Tánh. Tam hiền trong Biệt
giáo của Đại thừa, điều mà nhà Thiên Thai nói, không phải Viên giáo, mà là Biệt
giáo, trong Biệt giáo có Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, các ngài vãng
sanh là cõi Phương Tiện Hữu Dư. [Theo] Ngài Hiền Thủ, trong Kinh Hoa Nghiêm
nói chính là Viên giáo, Sơ trụ Bồ-tát của Viên giáo đoạn Vô minh rồi, vậy thì
sanh vào cõi Thật Báo; Trong Biệt giáo cần phải Sơ địa, Sơ địa của Biệt giáo,
phá một phẩm Vô minh, chứng một phần Pháp thân, bình đẳng với Sơ trụ của Viên
giáo. Đây là chỗ khác nhau của mỗi tông phái trong Giáo hạ, nếu chúng ta đem ra
để đối chiếu, thì quý vị sẽ thấy rõ ràng. ‘Nơi cư trú của Thánh nhân Tam thừa’,
Tam thừa của Biệt giáo.
Thứ tư là: 凡聖同居土 “Phàm Thánh Đồng Cư độ” (Cõi Phàm Thánh Đồng Cư). Cõi Phàm
Thánh Đồng Cư: là ở nơi đây của chúng ta, chúng ta là phàm phu, chỗ ở là cõi Đồng
Cư. Có Thánh nhân không? Có, có Thánh nhân. Như Pháp bảo quan trọng nhất: là Tịnh
Tu Tiệp Yếu Báo Ân Đàm mà cuối đời lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đã để lại, trong
đó có nói đến: một vị Pháp sư đến núi Ngũ Đài để triều bái Thánh. Ngài lên núi
Ngũ Đài, tâm địa rất kiền thành, ba bước một lạy, lạy đến lưng chừng núi, thì
phát hiện có một hang động, trên hang động đó có ba chữ là: Động Kim Cang. Ngài
thấy được danh từ ấy rất hoan hỉ, Động Kim Cang, ngài bèn đi vào bên trong. Sau
khi đi vào thì thấy được trong đó rất lớn, trong đó có cung điện, có rất nhiều
người xuất gia đang tu hành. Ngài đi vào bên trong ngôi chùa đó, lên chánh điện
để xem, thấy trên chánh điện không có tượng Phật, cảm thấy rất kinh ngạc, ngài
nhiễu quanh ba vòng, không có lạy, mà đi ra thôi. Khi rời khỏi, bỗng nhiên nghe
được phía sau có người gọi ngài, gọi tên của ngài, ngài cảm thấy rất kỳ lạ, trước
giờ tôi chưa từng đến đây, sao lại có người gọi tên tôi chứ? Thấy được một chú
tiểu Sa-di, chú tiểu Sa-di nói với ngài, Sư phụ trong nhà con mời thầy ngồi xuống
ạ. Gặp được Sư phụ của chú ấy rồi, thỉnh giáo với Sư phụ chú ấy, tại sao trên
chánh điện của quý ngài: không có tượng Phật ạ? Ngài ấy nói nơi đây của chúng
tôi không cần. Thưa chuyện với ngài ấy, ngài nói chỗ này quá tốt rồi, con có thể
quải đơn đến đây: để tu hành không ạ? Lão Pháp sư ấy nói với ngài, không được,
duyên phận của thầy vẫn chưa đến, thầy cần phải trở về. Thì ngài rời khỏi rồi.
Khi rời khỏi, trời đã chạng
vạng tối, đi cũng không xa lắm, có một vị Lạt ma sống ở nơi đó, trời tối rồi, vị
Lạt ma bèn nói với ngài, thầy không thể đi, trên núi rất nguy hiểm, thầy ở lại
chỗ này của tôi một đêm. Lúc ở lại cũng hỏi một số chuyện, bèn nói đến: động
Kim Cang mà vừa rồi ngài gặp được. Vị ấy nói không có, chỗ mà thầy nói, chỗ đó:
thì chúng tôi chưa từng nghe nói. Ngài nhớ rất rõ ràng, đã nói rất nhiều lời,
ngài nói tôi thật sự là từng trải qua, không phải, không phải là việc viển
vông, tôi thật sự thấy được. Riêng có một vị khác nghe vậy hỏi: có phải thầy đã
thấy được Bồ-tát Văn Thù không? Ngài nghe được câu nói đó, nước mắt đã chảy xuống,
duyên phận này quá thù thắng rồi. Lại thắp đèn lồng đi tìm, nhưng tìm không được
nữa.
Vì vậy chúng ta biết, Tứ
đại Danh sơn của Trung Hoa: thật sự có Bồ-tát ở nơi ấy, ngài Văn Thù ở Ngũ Đài,
ngài Phổ Hiền ở Nga Mi, ngài Địa Tạng ở Cửu Hoa, Bồ-tát Quán Âm ở Phổ Đà, Tôn
giả Đại Ca Diếp ở núi Kê Túc, những Danh sơn Bảo sát ấy: thật sự có Thánh nhân
đang tu hành. Nếu không có những bậc đại Thánh ấy, thì xã hội này, không thể tưởng
tượng nổi, những vị ấy đang trấn giữ. Trung Hoa có, chúng ta tin tưởng nước
ngoài cũng có. Nước ta cảm ứng là Phật Bồ-tát, nước ngoài cảm ứng là người trời,
bởi vì tôn giáo của họ, mục đích cuối cùng đều là sanh cõi trời, nhất định có
thiên nhân ở cùng với họ, là Phàm Thánh Đồng Cư. Phật Bồ-tát, người trời đại từ
đại bi, đến trụ ở thế gian này, để cõi nước thế gian này kiên cố, không đến nỗi
xảy ra đại tai nạn. Đại tai nạn đó, nghiêm trọng nhất là chiến tranh vũ khí hạt
nhân, nhất định không thể bùng phát! Chiến tranh vũ khí hạt nhân, sẽ hủy diệt
trái đất, sẽ xóa đi dấu vết của loài người ở thế gian, xóa sạch hết. Phật Bồ-tát
không mong muốn trông thấy, mà người trời cũng chẳng muốn nhìn thấy. Chúng ta cần
nên tin tưởng.
Báo Ân Đàm: là báo cáo tâm đắc học Phật cả đời của Niệm
lão. Ở đây, chúng ta còn có một tiểu bằng hữu, chú bé mới năm tuổi, có lẽ có rất
nhiều đồng học thấy được chú. Chúng ta có sách nói về Báo Ân Đàm, chú bé
ấy xem sách nói đó, tôi nghe nói đã xem hơn 70 lần, sức ghi nhớ của trẻ nhỏ tốt,
gần như có thể thuộc lòng. Vì vậy, giáo dục văn hóa truyền thống: phải cắm rễ từ
nhỏ, từ 20 tuổi trở lên cũng xem như nửa đường xuất gia rồi, phải cố gắng nỗ lực,
tranh thủ 10 năm công phu, mới có thể cắm được tốt gốc rễ. Nếu 20 đến 30, rễ
không được cắm chắc, vậy thì rất khó rồi. 20 đến 30 là thời điểm cắm rễ, 30 đến
40 thì thành tựu rồi. Sau 40, trước đây thầy Lý khuyên mọi người, thật thà niệm
Phật, cầu sanh Tịnh Độ, thời gian tốt đẹp của đời này cũng luống qua thôi, cuối
đời nắm chắc, tín nguyện trì danh, cầu sanh Tịnh Độ, [đây là] thượng thượng
sách.
Đó là bốn độ, tiếp theo
giải thích ‘Phàm Thánh’ cho chúng ta. 凡是凡夫,聖指聖人,聖人應跡世間,與凡夫同居一處,故曰凡聖同居土。 “Phàm
thị phàm phu, Thánh chỉ Thánh nhân, Thánh nhân ứng tích thế gian, dữ phàm phu đồng
cư nhất xứ, cố viết Phàm Thánh Đồng Cư độ.” (‘Phàm’ là phàm phu, ‘Thánh’ chỉ Thánh
nhân, Thánh nhân ứng tích thế gian, ở cùng một nơi với phàm phu, nên gọi là cõi
Phàm Thánh Đồng Cư). Trái đất này của chúng ta thật sự có: Thánh nhân ở
chung với chúng ta, Thánh nhân biết chúng ta, Còn chúng ta không biết các ngài,
thỉnh thoảng có duyên sẽ gặp được, lúc gặp được thì không nhận ra, đến khi nghĩ
lại, cũng không gặp được nữa. Những dấu vết ấy nói với chúng ta, sự việc này là
có thật, không phải là giả, thật sự có. 今娑婆世界亦名凡聖同居,但此土濁重多惡,不淨充滿,荊棘瓦礫,丘陵坑坎,是乃同居穢土 “Kim Ta Bà Thế giới diệc danh Phàm Thánh Đồng
Cư, đãn thử Độ trược trọng
đa ác, bất tịnh sung mãn, kinh kỷ ngoã lịch, khâu lăng khanh khảm, thị nãi Đồng Cư Uế độ” (Thế giới Ta Bà này cũng là Phàm Thánh Đồng
Cư, nhưng cõi này ô nhiễm nghiêm trọng nhiều điều ác, tràn đầy sự bất tịnh, gai
góc đá sỏi, gò đồi hầm hố, đó là Đồng Cư Uế độ). Chúng ta đây là cõi Phàm Thánh Đồng Cư, Niệm
lão đặc biệt nói rõ cho chúng ta, nơi đây của chúng ta là Đồng Cư Uế độ.
Xã hội động loạn, thảm họa
trái đất khác thường, trong lịch sử trước đây chưa từng thấy qua, hiện tại vì
sao lại nhiều như vậy? Chúng ta ngẫm xem câu nói này trong kinh Phật, lắng lòng
suy nghĩ thì sáng tỏ thôi, trong kinh nói với chúng ta: 相由心生,境隨心轉 “Tướng do tâm sanh, cảnh tuỳ tâm chuyển”. Vậy thì chúng ta nghĩ ra thôi, người hiện
nay của chúng ta, trong tâm họ nghĩ gì? Họ nói gì? Họ làm những gì? Nếu điều mà
họ nghĩ, họ nói, họ làm đều là sai lầm, đều là trái ngược luân lý đạo đức, thì
tướng đó có vấn đề rồi, tướng sanh từ tâm, tâm thiện sanh ra là tướng lành, tướng
tốt, những gì ác niệm sanh ra là tướng xấu. Có một số người nói Phong thủy,
Phong thủy đến từ đâu? Phong thủy là từ tâm mà đến.
Quá khứ, hình như khoảng
hai-ba mươi năm trước, có người từng hỏi tôi, người xưa nói, hầu như Phong thủy
Bảo địa trong thiên hạ: đều là người xuất gia, người tu đạo, các ngài chiếm cứ
thôi, hỏi tôi, những người xuất gia, Hòa thượng, Đạo sĩ ấy, có phải đều biết
xem Phong thủy không? Hỏi tôi vấn đề này. Tôi trả lời là, tôi nói không nhất định.
Người xuất gia không chú trọng Phong thủy, không coi trọng việc này, tôi tin Đạo
giáo cũng không chú ý đến những điều này, vậy tại sao chùa chiền chỗ các ngài
xây dựng: đều là nơi Phong thủy Bảo địa? Bởi tâm các ngài tốt, tâm của những
người ấy lương thiện, tâm tốt, người thật sự tu hành, các ngài trụ ở nơi đó ba
năm, thì Phong thủy của nơi đó đã tốt. Nếu đó là chỗ Phong thủy không tốt, các
ngài tới sống ba năm, thì Phong thủy đã chuyển thành tốt. Nếu là người ác, tâm
xấu ác, Phong thủy Bảo địa nơi đó tốt, họ đến sống ba năm, thì Phong thủy cũng
biến thành xấu thôi. Vậy mới nói thông được, với điều mà trong kinh đã nói: ‘Cảnh
chuyển theo tâm’. nói rất thông. Không phải ‘tâm tùy cảnh chuyển’, mà là ‘cảnh
tùy tâm chuyển’, nên hiểu đạo lý này. Lượng tử thời cận đại đã đề xướng điều
này, dùng tâm khống chế vật, dùng ý niệm của chúng ta để khống chế hiện tượng vật
chất, ý niệm tốt, trái đất này sẽ biến thành Thiên đường, nếu ý niệm xấu ác,
thì Thiên đường cũng biến thành ba đường ác, chẳng thể không biết.
Mấy câu nói này của Niệm
lão: miêu tả hoàn cảnh trái đất hiện thời của chúng ta, nói rất hay. ‘Trược trọng’,
‘trược’ là ô nhiễm, ô nhiễm nghiêm trọng; Nhiều điều ác, Người khởi tâm động niệm,
đều là tổn người lợi mình, người mà khởi tâm động niệm: nghĩ đến người khác thì
quá ít. Người xưa tự tư tự lợi, không dám tùy tiện thốt ra, rất lấy làm hổ thẹn,
còn bây giờ tự tư tự lợi đã trở thành nếp sống, ‘người không vì mình, trời tru
đất diệt’, hiện nay khởi xướng như vậy. Tôi nhớ trước kia, có lần tôi giảng
kinh ở Hồng Kông, Đài truyền hình Hồng Kông đến phỏng vấn tôi, người phỏng vấn
là Hà Thủ Tín, là một Ký giả rất nổi tiếng ở Hồng Kông, hình như hiện tại chắc
cũng về hưu rồi, tuổi tác đã lớn, ông ấy đã hỏi tôi câu nói này, ‘người không
vì mình, trời tru đất diệt’. Tôi bèn nói với ông ấy, lời nói này là sai lầm, đã
hại rất nhiều người, đó là có tội lỗi. Tôi nói với ông ấy, ở Trung Hoa, Khổng tử,
Mạnh tử chưa từng vì chính mình, trời không trừng phạt các ngài, mà đất cũng
không diệt các ngài. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sanh ra ở Ấn Độ, Ngài xuất thân
là Vương tử, Ngài không xuất gia thì Ngài là Quốc vương, Ngài đã từ bỏ vương vị,
không vì chính Ngài, mà là vì chúng sanh khổ nạn, vì để giáo hóa chúng sanh, trời
cũng không trừng phạt Ngài, mà đất cũng không diệt Ngài. Trước nay tôi nói đi
nói lại, trước khi tôi chưa học Phật, tôi rất ít nghĩ cho chính tôi, sau khi học
Phật rồi, càng là không nghĩ cho chính mình nữa, hoàn toàn giảng rõ ràng, giảng
sáng tỏ kinh điển của Phật, khích lệ người làm thiện, trời cũng không trừng phạt
tôi, đất cũng không diệt tôi. Cho nên không thể tuyên truyền hai câu nói này nữa.
‘Trời tru đất diệt’ là nói trái ngược với luân lý đạo đức, bất nhân bất nghĩa,
không biết đoạn ác tu thiện, không sợ nhân quả, không tin nhân quả, rất nhiều
người không tin tưởng nhân quả. Dám làm những nghiệp ác, chỉ mưu cầu chút lợi
nhỏ trước mắt, không biết vấn đề của đời sau sẽ nghiêm trọng, đời sau sẽ thế
nào? Nếu người tin tưởng nhân quả, thì nhất định không dám làm ác.
Mấy năm trước, chúng ta
xem được đĩa CD dựa thân của Đường Thái Tông, là vị Hoàng đế tốt, trong lịch sử,
không ai không khen ngợi ông, nhưng ông ở Địa ngục Vô Gián. Tại vì sao? Bởi khi
giành lấy chính quyền, đã giết quá nhiều người, tạo nghiệp sát. Ông ấy làm
Hoàng đế không tệ, thật sự là lo nghĩ cho nhân dân, người đời sau đều tôn kính
ông, khó có được người lãnh đạo tốt như vậy, nhưng không thể bù và triệt tiêu
những ác nghiệp tạo ra. Nghiệp nào báo trước? Lực lượng nào mạnh nhất sẽ báo
trước, lực lượng ác mạnh, vượt hơn lực lượng thiện, trước sẽ thọ báo khổ, thiện
báo sẽ ở phía sau. Sự việc này, trong kinh đức Phật đã giảng rất rõ ràng, Thái
Thượng Cảm Ứng Thiên của Đạo gia: cũng giảng rất rõ ràng, chẳng thể không đọc,
chẳng thể không học. Quý vị đọc rồi, chỉ có chỗ tốt, không có chỗ xấu, quý vị
không học, thì đối với chính mình sẽ tổn thất rất lớn. Những kinh giáo ấy cũng
không dài, đều là bản nhỏ, không sâu sắc lắm, có thể hiểu được, khuyến thiện
răn lỗi.
Chúng ta quay đầu lại để
xem Thế giới Cực Lạc, 至於極樂同居 “chí
ư Cực Lạc Đồng Cư” (còn như Đồng Cư của
cõi Cực Lạc), nói về cõi Đồng Cư, 池流八德 “trì lưu Bát đức” (tám công đức của dòng nước
ao), nước ở trong ao Thất bảo, nước tám
công đức, 樹盈七珍 “thọ
doanh thất trân” (cây tràn đầy bảy
báu), ‘trân’ là
trân bảo, chúng ta nói bảy báu, cũng là tràn khắp, khắp cây đều là bảy báu. 寶蓮佛光 “Bảo liên Phật quang” (Ánh sáng của Phật trong hoa sen báu),
mỗi người đến Thế giới Cực Lạc, hóa sanh trong hoa sen, trong ao đó Phật quang
thường chiếu, 遍滿國土 “biến mãn Quốc độ” (khắp cả cõi nước). 水鳥樹林,演說妙法 “Thuỷ
điểu thọ lâm, diễn thuyết diệu pháp” (Nước, chim, rừng cây: diễn thuyết diệu pháp), hiện nay chúng ta
có, rừng cây, hiện nay dùng máy phát thanh, ở nơi dừng chân như đình nhỏ: có
truyền hình cáp, không nhất thiết phải ở giảng đường mới nghe kinh
học tập, mà đến nơi nào cũng được. Bây giờ, điện thoại có thể bắt được truyền
hình, cũng có thể thu được bài giảng kinh dạy học, quá thuận tiện rồi. Thế giới
Cực Lạc hoàn toàn là A Mi Đà Phật, theo cách nói của chúng ta, A Mi Đà Phật là
nhà khoa học lớn, Ngài có thể biến ra rất nhiều loài chim khác nhau, pháp mà
quý vị ưa thích, những chú chim ấy đều sẽ thuyết, âm thanh mỹ diệu, khiến quý vị
nghe không chán. Quý vị muốn nghe kinh gì, muốn nghe pháp gì, muốn biết sự việc
gì, chúng thảy đều giảng cho quý vị, quá khứ hiện tại vị lai, Thế giới này
phương khác, chẳng gì chúng không thông, quý vị muốn học thì chúng sẽ dạy quý vị.
諸上善人,入正定聚,永離眾苦 “Chư
Thượng thiện nhân, nhập Chánh định tụ, vĩnh ly chúng khổ” (Các bậc Thượng thiện nhân, nhập
vào Chánh định tụ, mãi rời tất cả khổ). Đến đâu để tìm nơi như vậy
chứ? Thượng thiện là chỉ Đẳng giác Bồ-tát, địa vị cao nhất trong Pháp thân Bồ-tát,
Thượng thiện, như ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng, Di Lặc, Quán Âm, Thế Chí,
những vị Thượng thiện như thế, rất nhiều. Các ngài đang trợ giảng cho Phật, thường
thường ở bên cạnh, vấn đề nào cũng có thể thỉnh giáo. Mọi người đều nhập vào
Chánh định tụ, nhập vào Chánh định tụ dễ dàng như thế, thật sự là bởi vì có
liên quan đến hoàn cảnh. Hiện tại chúng ta ở nơi này, không nói việc khác, nói
niệm Phật thôi, có thể niệm một tiếng đồng hồ, không gián đoạn, đã rất khó, khó
ở chỗ nào? Hoàn cảnh quấy nhiễu quý vị. Còn có thứ quấy nhiễu phiền toái nhất,
mà quý vị vẫn ưa thích, mang ở bên mình, [đó là] điện thoại, không định lúc nào
sẽ đến, làm gián đoạn công phu của quý vị, khiến tịnh niệm của quý vị lại mất hết.
Vì vậy, người thật sự niệm Phật thì không thể dùng điện thoại, trong 24 giờ:
chúng không ngừng đang nhiễu loạn quý vị, quý vị làm sao có thể thành tựu? Nên
tắt nguồn điện thoại đi. Nếu khi bạn bè quan trọng có việc cần thiết, thì nói với
họ khoảng thời gian, khi nào tôi mở điện thoại, mỗi ngày mở hai giờ, không phải
nội trong hai giờ đó thì không mở, quý vị sẽ không tìm được tôi. Tốt nhất thảy
đều không mở, không có việc, hà tất gì phải tìm? ‘Vĩnh ly chúng khổ’, Thế giới
Cực Lạc không có khổ, người, những người ở chung đều là Bồ-tát, đều là La-hán,
đều là Đệ tử chân chánh của A Mi Đà Phật. Đạo tràng ở nơi này của chúng ta, là
đạo tràng tu Tịnh Độ, đại chúng ở chung vẫn không thể hòa thuận. Thế giới Cực Lạc
thật sự là đạo tràng Lục hòa kính, cho nên đạo tràng ấy: nâng lên rất nhanh,
thành tựu rất nhanh.
唯受大乘法樂 “Duy
thọ Đại thừa pháp lạc” (Chỉ thọ pháp lạc của Đại thừa). Thế giới Cực Lạc là cõi nước Phật vô cùng
viên mãn, vãng sanh quá dễ dàng, dễ đến quý vị không thể tưởng tượng được. Điều
kiện của vãng sanh là hai chữ, một là tín, hai là nguyện. Quý vị có điều kiện
này không? Không cần hỏi người khác, hãy hỏi chính mình, tôi thật sự tin tưởng
có Thế giới Cực Lạc, có A Mi Đà Phật, không hoài nghi một chút nào; Tôi muốn đến
Thế giới Cực Lạc: để thân cận A Mi Đà Phật, cầu A Mi Đà Phật dạy dỗ, để tôi sớm
ngày thành Phật, đây là nguyện. Ngũ nghịch Thập ác, một hơi thở chưa dứt, phát
nguyện này cũng được vãng sanh. Đây không phải là nói rõ: trên từ Đẳng giác Bồ-tát,
dưới đến Địa ngục A Tỳ, A Mi Đà Phật đều phổ độ, chỉ dùng hai chữ, tín nguyện.
Đại sư Ngẫu Ích nói rất hay, có thể vãng sanh được hay không toàn ở có tín nguyện
hay không, có tín có nguyện thì chắc chắc quý vị được sanh, niệm Phật, niệm Phật
là một sự việc khác, phẩm vị cao thấp: đó là ở sự cạn hay sâu của công phu niệm
Phật. Người niệm Phật chưa có công phu: có thể vãng sanh được không? Được, chỉ
cần có tín có nguyện, niệm một tiếng A Mi Đà Phật cũng có thể vãng sanh, nguyện
thứ 18, mười niệm, một niệm đều có thể vãng sanh. Quý vị xem dễ dàng đến thế!
Chẳng ai mà không có phần, A Mi Đà Phật đối đãi với người công bằng, không làm
khó người khác. Vậy có thể không vãng sanh sao?
Ở cõi ấy, các bậc Thượng
thiện nhân tụ hội cùng một nơi, chúng ta cần đạt được chư Thượng thiện nhân,
chúng ta chưa thiện, thì làm sao có thể ở cùng các Ngài? Bổ sung, ta bổ sung, bổ
sung thiện vào. Bổ sung bằng cách nào? Niệm Phật, danh hiệu này của A Mi Đà Phật:
là thiện trong thiện, không có điều nào thiện hơn nữa, có thể thường niệm, tốt!
Không có việc gì thì niệm Phật, đem thiện của chúng ta nâng cao lên. Chẳng thể
không biết sự việc này, không thể quên mất. Tổ tiên xưa của đất nước chúng ta
cũng nói: ‘Bản tánh vốn thiện’, tôi muốn khôi phục lại Bản tánh vốn thiện của
tôi, thì dùng phương pháp nào?
Cũng không cách nào tốt hơn niệm A Mi Đà Phật, khiến chúng ta kéo gần khoảng
cách với vốn thiện, thì bất thiện sẽ rời xa. Duyên bất thiện rất nhiều, cũng
không thể cự tuyệt, khi cự tuyệt sẽ tạo thành ảnh hưởng không tốt, phải tùy hỉ
công đức. Tùy hỉ công đức mà không mất chánh niệm, điều này quá quan trọng rồi,
tôi thuận theo quý vị, tôi là thân thuận theo quý vị, sự thuận theo quý vị,
nhưng tâm của tôi, niệm của tôi là A Mi Đà Phật, tôi không thuận theo quý vị việc
này. Chúng tôi vô cùng rõ ràng, thuận quý vị là tiếp tục làm việc Lục đạo Luân
hồi, quý vị không chịu thuận tôi, nếu quý vị chịu thuận tôi, thì quý vị đến Thế
giới Cực Lạc. Trí huệ đức năng của chính chúng tôi không đủ, không đủ để cảm động
người, chỉ có chúng tôi tùy thuận người khác. Khi tùy thuận phải nắm chắc được,
chính là một mực giữ chặt bốn chữ: tín nguyện trì danh này, có thể tùy thuận.
tùy thuận [nhưng vẫn] kèm theo bốn chữ này, để quý vị hoan hỉ. Tôi đến Thế giới
Cực Lạc, bất luận quý vị sanh đến đường nào, bất luận sanh đến nơi nào, tôi đều
có thể thấy được, tôi đều có thể nghe được, quý vị có khổ nạn, tôi có thể giúp
quý vị, vậy cũng được rồi.
Chúng ta lại xem tiếp: 又極樂同居淨土,圓明無礙,亦通於常寂等上三土 “Hựu Cực Lạc Đồng Cư Tịnh Độ, viên minh vô
ngại, diệc thông ư Thường Tịch đẳng thượng tam độ ” (Lại nữa Đồng Cư Tịnh Độ của cõi Cực Lạc,
thì viên minh vô ngại, cũng thông với ba cõi trên như Thường Tịch Quang v.v…). Câu
này thật sự là không thể nghĩ bàn. Thời gian hôm nay hết rồi, chúng ta học tập
đến đây thôi, buổi học sau chúng ta sẽ học tập. ‘Đồng Cư Tịnh Độ, viên minh vô
ngại’, cõi ấy cũng thông với Thường Tịch Quang, cũng thông với cõi Thật Báo, vô
cùng khó được. Đến Thế giới Cực Lạc, sanh một thì sanh tất cả, bất kể sanh ở
cõi nào, đều là có phần ở tất cả bốn cõi, hết thảy đều thơm lây. Đó là hiếm có
khó gặp không gì sánh bằng, chúng ta nhất định không thể để luống qua đời này.
Thôi, xin chào mọi người.
(Hết tập 245)
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử cùng chúng sanh
Đều sanh nước Cực Lạc
Sớm viên thành Phật quả
Rộng độ khắp chúng sanh.
Nam Mô A Mi Đà Phật.