Responsive Menu
Add more content here...

Tập 247 – Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2014

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014-2017

(Giảng lần thứ 4)

PHẨM 9: VIÊN MÃN THÀNH TỰU:

Thành Tựu Viên Mãn

(Buổi 9)

Tập 247

Hòa thượng Thích Tịnh Không chủ giảng.

Giảng tại: Hiệp Hội Giáo Dục Phật Đà Hồng Kông.

Thời gian: Ngày 12 tháng 09 năm 2015.

Dịch giả: Như Lộ.

Giảo chánh: Thích Thiện Trang.

 

Kính chào chư vị Pháp sư, chư vị đồng học, kính mời ngồi. Mời mọi người cùng tôi quy y Tam Bảo:

“A-xà-lê tồn niệm, ngã Đệ tử Diệu Âm, thỉ tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật-Đà, lưỡng túc trung tôn, quy y Đạt-Ma, ly dục trung tôn, quy y Tăng-Già, chư chúng trung tôn” (3 lần).

Mời xem Đại Kinh Khoa Chú, trang thứ 594, trang thứ 594, hàng thứ 5 từ trái sang, hàng thứ 5 từ trái sang: 又東密(日本密宗)亦謂阿彌陀佛即是大日如來 “Hựu Đông Mật (Nhật Bản Mật tông) diệc vị A Mi Đà Phật tức thị Đại Nhật Như Lai” (Lại nữa Đông Mật (Mật tông của Nhật Bản) cũng gọi A Mi Đà Phật chính là Đại Nhật Như Lai). Chư Phật Bồ-tát, thậm chí với tất cả pháp trong vũ trụ, Phật Bồ-tát dựa vào nguyên tắc nào: để giáo hóa chúng sanh? Trong kinh luận nói rất nhiều, không gì khác chính là ứng cơ thí giáo. Cho nên như những danh tự bất đồng này: đều có nguồn gốc, không phải tùy tiện đặt ra theo chính mình, mà đều có kinh điển làm căn cứ, vậy thì cũng có thể nói chư Phật Như Lai, đức Thích Ca Thế Tôn [đều là] ứng cơ thí giáo mà thuyết. Trong Khởi Tín Luận, Bồ-tát Mã Minh nói với chúng ta, chúng ta nên dùng thái độ thế nào để tiếp nhận lời dạy của Phật Bồ-tát? Đầu tiên ngài nói với chúng ta, không thể chấp trước Tướng ngôn thuyết, gọi là lìa Tướng ngôn thuyết. Nghe lời ngài nói, không được chấp trước, vậy thì đúng rồi. Thứ hai là lìa Tướng danh tự, chính là những thuật ngữ, những danh từ, những thuật ngữ như: A Mi Đà Phật, Đại Nhật Như Lai, đây đều là Tướng danh tự, Tướng danh tự của người, Tướng danh tự của Bồ-tát, Tướng danh tự của vạn vật, đều không trọng yếu, không quan trọng, bất luận cách nói thế nào, chỉ cần người khác có thể lãnh ngộ, thì đó là phương pháp cao minh nhất, phương pháp phù hợp nhất. Phải khiến đối phương có thể cảm ngộ, không phải nói nghe hiểu, nghe không hiểu, mà có chỗ ngộ, khơi gợi chỗ ngộ của họ, đó là cao minh nhất. Thứ ba là không chấp trước Tướng tâm duyên. Tuyệt đối không được: khi xem thấy văn tự đó, ta liền nghĩ đến ý nghĩa, ý nghĩa ấy không phải là thật, không phải là nghĩa chân thật của Như Lai nói, mà đó là ý nghĩa của chính chúng ta. Vậy nên như thế nào? Chính mình không có ý nghĩa để tiếp nhận, thì có thể lãnh hội được chân thật nghĩa của Như Lai, điều này vi diệu lắm.

Công phu tu hành của chúng sanh không đắc lực, do xuất hiện vấn đề ở đâu? Xuất hiện ở phân biệt chấp trước Tướng danh tự, Tướng ngôn thuyết, Tướng tâm duyên, phân biệt chấp trước những điều này, thì sai rồi. Cho nên không có cách nào khiến buộc đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài mới nói một câu, 49 năm cả đời Ta không thuyết một lời nào, nếu ai nói Ta thuyết Pháp, thì là hủy báng Phật. Có phải là thật không? Là thật, thật sự chưa từng thuyết một lời nào. Sao lại nói ra lời như thế? Là chúng sanh có cảm, Phật Bồ-tát từ ngay trong Tự Tánh: tự nhiên lưu xuất ra. Không như chúng ta, chúng ta nói năng trước phải suy nghĩ một chút: phải nên nói việc này thế nào, đó chính là có nói, Phật Bồ-tát trước giờ chưa từng nghĩ qua, phải ghi nhớ điều này. Đức Phật nhất định khi sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, Ngài làm được không khởi tâm, không động niệm, Ngài không có ý nghĩ. Tuy Bồ-tát có Khởi tâm Động niệm, nhưng không có Phân biệt Chấp trước. A-la-hán, có Phân biệt, không có Chấp trước, cho nên ngài có thể khế nhập. A-la-hán khế nhập ít phần, Bồ-tát nhập nhiều phần hơn, Pháp thân Bồ-tát đều đạt được toàn bộ rồi, giác ngộ triệt để.

Chúng ta hiểu được đạo lý này, giữ chặt nguyên tắc này, thì đối với những điều trong kinh giáo: sẽ không còn vấn đề nữa. Nhưng, nếu chúng ta cũng giải thích cho người khác nghe, thì phải giảng rõ ràng, giảng sáng tỏ. Để giảng rõ ràng, giảng sáng tỏ, thì cần phải tra cứu tư liệu tham khảo, tra cứu kinh điển. Chúng ta có đồng học rất khó được, đã tốn không ít tâm huyết, đem tư liệu tham khảo về danh từ thuật ngữ: trong bộ sách này của chúng ta in thành hai bản, hai quyển thượng [và] hạ, đại khái phân lượng gần bằng với kinh, nội dung rất phong phú, đều có thể làm tư liệu tham khảo. Vì vậy sau khi Liên công hội tập Kinh Vô Lượng Thọ, thì Chú Giải của Niệm lão xuất hiện, vào lúc đó; Bản Khoa phán mà tôi biên soạn cũng đã xuất hiện. Có lần tôi đến thăm Triệu Phác lão ở Bắc Kinh, tôi đem bản Khoa Phán này, Chú Giải của Niệm lão đều tặng một bản cho ngài, ngài thấy rồi vô cùng hoan hỉ, học bộ đại Kinh này đã thuận tiện nhiều hơn, tư liệu quan trọng nhất đều đầy đủ hết cả, chính là Khoa Phán và Chú Giải. Hiện nay, trong Chú Giải cũng có rất nhiều điều mà trên kinh không đề cập đến, cần phải tra cứu Phật Học Từ Điển, phải tra cứu tư liệu của kinh điển bản gốc, vậy nhưng cũng có đồng học tra cứu giúp chúng ta tốt rồi, biên soạn thành bộ sách này. Vì vậy những tư liệu tham khảo cần thiết để học Kinh Vô Lượng Thọ đã vô cùng hoàn chỉnh, phải nên thật sự nỗ lực nghiêm túc học tập.

Đông Mật là cách gọi của người nước ta: đối với Phật giáo Mật tông của Nhật Bản, chính là Mật tông Đông Dương, chính là Mật tông Nhật Bản, cũng nói A Mi Đà Phật: chính là đức Đại Nhật Như Lai, tương đồng với cách nói của Pháp sư Trí Giác trích dẫn trong Sớ Sao. Đại sư Hưng Giáo của Nhật Bản, các ngài ấy đều là Tổ sư Đại đức của Phật giáo Nhật Bản, ngài là thuộc về tông Tịnh Độ, có bộ A Mi Đà Bí Thích, đó là Chú giải, tên của Chú giải là Bí Thích, trong đó nói: 一者無量壽。法身如來居法界宮,不生不滅 “Nhất giả Vô Lượng Thọ. Pháp thân Như Lai cư Pháp giới cung, bất sanh bất diệt” (Một là Vô Lượng Thọ. Pháp thân Như Lai cư trú trong cung điện Pháp giới, không sanh không diệt). Đó là cung điện Pháp giới của đức Đại Nhật Như Lai cư trú, ‘cung’ là tỷ dụ, không phải có cung điện thật, Pháp giới chính là Pháp thân, chính là Thường Tịch Quang. Pháp thân Như Lai trụ ở đâu? Trụ ở Thường Tịch Quang. Thân [và] độ là một không phải hai, Thường Tịch Quang là thân của Ngài, là Pháp thân, Thường Tịch Quang cũng là cõi Pháp tánh, một sự việc mà hai danh xưng, là một không phải hai, thân và độ là một không phải hai, gọi là không sanh không diệt. Người nước chúng ta, bởi vì Lục tổ Huệ Năng là người nước ta, cảnh giới của ngài là cùng một cảnh giới với sự Đại triệt Đại ngộ, Minh tâm Kiến tánh của đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cội Bồ-đề, thật sự thấy được Pháp thân, cho nên ngài có thể nói ra không sanh không diệt. Năm câu ấy nói thật quá hay, thật sự đơn giản rõ ràng, đã nói ra hết toàn bộ Phật pháp, tám vạn bốn ngàn Pháp môn, vô lượng Pháp môn: đều không thể vượt khỏi năm câu của Đại sư Huệ Năng. Thế nào là Phật pháp? Năm câu mà ngài nói chính là Phật pháp. Bất sanh bất diệt, đó là Pháp thân.

二者無量光。法身如來妙觀察智光 “Nhị giả Vô Lượng Quang. Pháp thân Như Lai Diệu quán Sát trí quang” (Hai là Vô Lượng Quang. Ánh sáng Diệu quán Sát trí của Pháp thân Như Lai), đây chính là chuyển tám thức thành bốn trí mà Tướng tông nói. Chuyển A-lại-da thành Đại viên Cảnh trí; Chuyển Ý thức Thứ sáu thành Diệu quán Sát trí, chính là trí huệ vốn có trong Tự Tánh, vô lượng vô biên trí huệ, chuyển tám thức thành tứ trí thì biến thành Diệu quán sát; Chuyển Mạt-na thành Bình đẳng Tánh trí, Mạt-na là ý ô nhiễm, Phân biệt, thì không bình đẳng, Phân biệt Chấp trước, thì không bình đẳng, nó dẫn đầu trong việc tạo nghiệp, tạo thiện nghiệp, tạo ác nghiệp, tạo nhiễm nghiệp, tạo tịnh nghiệp, sau khi chuyển đổi lại chính là Bình đẳng Tánh trí; Chuyển năm thức trước (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là Tiền ngũ thức) thành Thành sở Tác trí, ‘thành’ là thành tựu, thành tựu điều đã làm, điều đã làm không gì khác là hóa độ chúng sanh. Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, để độ chúng sanh thì phải dùng thân thể này, phải hiện tướng, hiện thân, cho nên mắt, tai, mũi, lưỡi, thân: là để thành tựu việc đã làm. Chuyển tám thức thành bốn trí, quanh minh trong Diệu quán Sát trí, 遍照無量眾生“biến chiếu vô lượng chúng sanh” (chiếu khắp vô lượng chúng sanh), thế gian hữu tình, 無量世界 “vô lượng Thế giới” (vô lượng Thế giới), Y báo, chúng sanh là Chánh báo, y chánh trang nghiêm, khắp vô lượng Thế giới, phải ghi nhớ câu này, vô lượng Thế giới, vô lượng chúng sanh, chiếu khắp cả. Cho nên chúng sanh có cảm, Pháp thân liền có ứng, Pháp thân chính là Thường Tịch Quang, Thường Tịch Quang ở nơi đâu? Trước giờ chưa từng rời khỏi chúng ta, khắp ở mọi lúc, khắp ở mọi nơi, bất luận chúng ta đi đến đường nào, cũng chưa bao giờ lìa khỏi. Đó là Bản thể của tất cả vạn pháp: trong khắp Pháp giới Hư không giới, rời khỏi Bản thể thì không có hiện tướng, Thể và Tướng là mãi mãi ở cùng một khối, không tách rời nhau. Thể không trở ngại Tướng, không trở ngại sự phát huy của vạn tướng, Tướng cũng không trở ngại Thể, Thể là Thanh tịnh Vô vi, Tướng là Hữu vi. Hữu vi, với người thật sự đại Giác ngộ, chúng ta nói người kiến Tánh, tuy người ấy Hữu vi, nhưng người ấy không trụ, Vô trụ Sanh tâm. Sanh tâm chính là Hữu vi, Hữu vi chính là hiện tướng, chính là làm việc, tuy hiện tướng làm việc, nhưng không có mảy may khác biệt với Pháp thân, Pháp thân là Thanh tịnh Vô vi, không sanh một niệm, người Đại triệt Đại ngộ ở Mười pháp giới, ở Lục đạo hiện thân thuyết pháp, hằng thuận chúng sanh, cũng là không có Khởi tâm, không có Động niệm. Không có Khởi niệm, không có Động niệm chính là Pháp thân, Khởi tâm Động niệm là Báo thân, Ứng hóa thân, vì vậy Pháp thân, Báo thân, Ứng hóa thân [là] một Thể, mục tiêu học Phật cuối cùng của chúng ta chính là chứng đắc, để chúng ta trở về nhất Thể. 常恆施利益 “Thường hằng thí lợi ích” (Thường hằng bố thí lợi ích), ‘thường’ là không có gián đoạn, ‘hằng’ là mãi mãi, bố thí lợi ích cho tất cả chúng sanh, chúng sanh cần điều gì, Ngài sẽ bố thí điều đó. Mãi không rời Tánh đức, Tánh đức chính là năm câu mà Đại sư Huệ Năng nói, năm câu ấy đã nói Phật pháp rất viên mãn, cho nên Ngũ Tổ nghe xong rồi, liền lập tức trao Y Bát cho ngài, lập ngài làm Tổ đời thứ sáu của Thiền tông. 故大日如來或名無量光佛 “Cố Đại Nhật Như Lai hoặc danh Vô Lượng Quang Phật” (Cho nên, Đại Nhật Như Lai có thể xưng là Vô Lượng Quang Phật), đúng vậy, kế tiếp còn có等等 “đẳng đẳng” (vân vân…), rất nhiều danh hiệu, danh hiệu của Phật Bồ-tát không sao kể hết. Danh tự đều là khế cơ khế lý, thiện xảo phương tiện, không có sự cố định. Đức Đại Nhật cũng là đức Tỳ Lô Giá Na.

Chúng ta xem tiếp đoạn sau đây: 阿彌陀 “A Mi Đà”, A Mi Đà là tiếng Phạn, 具無量義 “cụ vô lượng nghĩa” (đầy đủ vô lượng nghĩa). A Mi Đà không phải là tiếng nước ta, mà là tiếng Phạn, phiên dịch thành, tức là ở đây dịch theo ý nghĩa, phiên dịch là無量壽 “Vô Lượng Thọ”, thứ hai dịch là無量光 “Vô Lượng Quang”, thứ ba phiên dịch là甘露王 “Cam Lộ Vương”. 密教以此三名,依其次第表法報化三身 “Mật giáo dĩ thử tam danh, y kỳ thứ đệ biểu Pháp Báo Hoá tam thân” (Mật giáo dùng ba danh xưng này, dựa theo thứ tự ấy để biểu thị ba thân: Pháp, Báo, Ứng), Vô Lượng Thọ, [là] Pháp thân; Vô Lượng Quang, [là] Báo thân; Cam Lồ Vương, [là] Hóa thân. Thật tế chúng ta xem, nên phối hợp thế nào? Vô Lượng Thọ là Báo thân, Vô Lượng Quang mới là Pháp thân, Cam Lồ Vương là Ứng hóa thân. Quý vị xem, quý vị nói thế nào, cũng có thể nói thông được, đều không có chướng ngại. Lại có thể dịch thành: 無量莊嚴、無量清淨 “Vô Lượng Trang Nghiêm, Vô Lượng Thanh Tịnh”, cũng đều là nói về ba thân. 又十二光名 “Hựu thập nhị quang danh” (Thêm nữa 12 danh hiệu quang minh), cũng là danh hiệu của A Mi Đà Phật, trong Kinh nói cho chúng ta về 12 loại quang minh. Điều này đã nói rõ: danh hiệu của Phật Bồ-tát nhiều như thế, chẳng qua là để thuận tiện giáo hóa chúng sanh nên giả lập, đó là một loại phương tiện để giáo hóa chúng sanh, mục đích của việc giáo hóa chúng sanh: là dẫn khởi họ khai ngộ, giác ngộ, hễ họ vừa giác ngộ thì không phải dạy nữa, không cần dạy nữa. Sau khi giác ngộ, vô lượng trí huệ vốn tự đầy đủ trong Tự Tánh: thảy đều hiện tiền, vì thế không cần nói nữa, đã tốt nghiệp, đã viên mãn rồi. Đó chính là tất cả chúng sanh xưa nay là Phật, họ đã quay đầu, đã quay trở về với ngôi vị Phật rồi, trở về địa vị Phật là trở về Thường Tịch Quang.

Trong Thường Tịch Quang là bình đẳng, nhất Thể, tất cả chư Phật cùng một Thể. Xưa nay đồng một Thể, trước giờ cũng chưa từng rời xa, chỉ là mê ngộ bất đồng. Khi ngộ thì không có sự khác biệt, khi mê thì dường như có sự khác biệt, giác ngộ thì không còn nữa. Sau khi giác ngộ, Phật với Phật ở cùng một nơi cũng không lời nào để nói, đều là không khởi tâm, không động niệm. Khởi tâm Động niệm còn không có, thì ở đâu ra Phân biệt Chấp trước? Đây là điều mà chúng ta không thể không biết. chúng ta biết rồi, phương hướng mục tiêu sẽ không sai lầm; Chúng ta không biết, thì phương hướng mục tiêu: thường xuyên sẽ bị cảnh giới bên ngoài lôi kéo đi, vậy thì thiệt thòi lớn rồi. Sau khi thật sự liễu giải, mười phần tín tâm, tin tưởng chính mình xưa nay là Phật, tin tưởng Tự Tánh của chính mình: với mười phương Như Lai là một không phải hai, tin tưởng Tự Tánh của tất cả chúng sanh: với chính mình cũng là một không phải hai, đối với giáo huấn của Phật Bồ-tát sẽ không còn nghi ngờ, đối với sự tạo tác của tất cả chúng sanh: sẽ không khởi tâm động niệm, sẽ có lợi ích lớn như thế.

Tín tâm của chúng ta không đủ, gió ở cảnh giới bên ngoài vừa động, chúng ta liền lập tức có phản ứng, đó đều là nhận thức của chính mình không đủ, tín tâm không kiên cố. Vậy phải làm sao? Không thể không đọc kinh, bộ Kinh Vô Lượng Thọ này là đủ rồi. Kinh Vô Lượng Thọ: cộng với những tư liệu tham khảo này của chúng ta, phân lượng của tư liệu tham khảo: gần bằng với bộ Chú Giải này, chính là Phật pháp viên mãn, thông bộ này rồi, thì môn nào cũng thông. Hơn nữa thuận tiện lớn nhất, công đức thù thắng không gì sánh bằng, chính là một câu Phật hiệu, tín nguyện trì danh; Chúng ta liễu giải không đủ thấu triệt cũng không sao, dù sao đến Thế giới Cực Lạc, vấn đề sẽ được giải quyết thôi. Tín nguyện trì danh giúp chúng ta vãng sanh, chúng ta phải kiên định tín tâm đối với điều này, tuyệt đối không hoài nghi, tuyệt đối không dao động, tuyệt đối không bị hoàn cảnh dao động.

Đoạn tiếp theo đây: 又阿彌陀三字,每字亦具無量義 “Hựu A Mi Đà tam tự, mỗi tự diệc cụ vô lượng nghĩa” (Thêm nữa ba chữ A Mi Đà, mỗi chữ cũng đầy đủ vô lượng nghĩa), mỗi chữ đều đầy đủ vô lượng nghĩa. 阿字為本不生之義 “A tự vi bổn bất sanh chi nghĩa” (Chữ ‘A’ là nghĩa của vốn không sanh), ‘A’, nghĩa là không sanh, 故是空諦 “cố thị Không đế” (nên là Không đế), nhà Thiên Thai nói về Tam đế, là thuộc về Không đế trong Tam đế. 彌字為吾我之義 “Mi tự vi ngô ngã chi nghĩa” (Chữ ‘Mi’ là nghĩa của ta tôi), nghĩa của chữ ‘Mi’ là ta, chữ ‘ta’ này là giả thiết, 故是隨緣之假諦 “cố thị tuỳ duyên chi Giả đế” (cho nên Giả đế của tùy duyên). 陀字為如之義 “Đà tự vi như chi nghĩa” (Chữ ‘Đà’ nghĩa là như), chân không như giả danh ấy, giả danh như chân không ấy, chân [và] giả như một, chân [và] giả không hai, đó gọi là như, đó chính là中諦 “Trung đế”. Vì vậy phải nhận biết chân [và] giả, cần phải dùng Trung.

Trước khi Phật giáo chưa truyền đến nước ta, Tổ tiên xưa chúng ta biết dùng Trung, ở trong sách nào vậy? Trung Dung. Đại Học là phương pháp, phương pháp gì? Từ an lạc của thân tâm cá nhân, thọ dụng của mỗi người, làm sao mới có thể đạt được cả đời thân tâm an lạc, đây là điều đầu tiên; Gia đình mỹ mãn, sự nghiệp thành công thuận lợi, xã hội an định hài hòa, đất nước giàu mạnh, thiên hạ thái bình, quý vị muốn đạt được những điều này, phương pháp ở ngay trong quyển sách đó, quyển sách nhỏ, là sách Đại Học. Còn Lý luận thì sao? Lý luận ở trong sách Trung Dung. Có thể nói, hai quyển sách Đại học, Trung Dung, đều là hai quyển sách từ trong Lễ ký, là tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc, tinh hoa trong tinh hoa của học thuyết nhà Nho. Chu Hi đã chọn ra hai quyển sách ấy từ trong Lễ Ký, cộng thêm Luận Ngữ và Mạnh Tử, soạn thành một bộ gọi là Tứ Thư. Với cách nghĩ ấy của ông, tôi đoán là có được từ trong Kinh Hoa Nghiêm, chúng ta biết xưa kia khi Chu Phu tử còn ở đời, đã học không ít kinh Phật. Hoa Nghiêm là Pháp luân viên mãn của Phật giáo, Tiên sinh Phương Đông Mỹ nói với tôi, Phật học Khái luận, Hoa Nghiêm là Phật học Khái luận, hết thảy tất cả kinh điển: đều là đoạn nhỏ được trích ra từ trong đó, đó là tổng cương lĩnh, trong đó có lý luận, có phương pháp, còn mang tính biểu diễn, thầy nói đó là bộ tốt nhất trong số sách Triết học, trong số những Triết học Khái luận của toàn thế giới, mang tính biểu diễn, 53 Tham là biểu diễn. Tứ Thư cũng có vị đạo này, Trung Dung là lý luận; Đại Học là phương pháp; Luận Ngữ, là sự biểu diễn Khổng tử, đã làm được Trung Dung và Đại Học, thực tiễn trong đời sống, thực tiễn trong gia đình, thực tiễn trong sự nghiệp, ngài làm được rồi; Mạnh tử cũng là biểu diễn như thế. Khổng tử là Thánh nhân, Mạnh tử là Hiền nhân, Thánh nhân thực hiện thế nào, Hiền nhân thực hiện thế nào, bộ sách đó nói hết rồi, học tập văn hóa truyền thống: cũng không thể bỏ qua quyển sách đó. Sau khi gốc rễ vững chắc, bộ đầu tiên phải học chính là Tứ Thư, quý vị đã thật sự tìm được đường hướng, con đường của Thánh Hiền rồi. Khái luận của Phật pháp, Tứ Thư này có thể nói là khái luận của Nho học, Hoa Nghiêm là khái luận của Phật học, phân lượng lớn, nội dung rất phong phú. Đại thừa Tiểu thừa, Mật giáo, mỗi tông phái đều là: cành nhánh được cắt ra từ Hoa Nghiêm, Hoa Nghiêm giống như cây đại thụ, các tông phái đều là cành cây, thân cây, nhánh cây.

Trong sách A Mi Đà Bí Thích nói: 阿字,一心平等本初不生義。彌字,一心平等無我大我義。陀字,一心諸法如如寂靜義。 “A tự, nhất tâm bình đẳng bổn sơ bất sanh nghĩa. Mi tự, nhất tâm bình đẳng vô ngã đại ngã nghĩa. Đà tự, nhất tâm chư pháp như như tịch tĩnh nghĩa” (Chữ ‘A’, nghĩa là một tâm bình đẳng ban sơ vốn không sanh. Chữ ‘Mi’, nghĩa là một tâm bình đẳng không có ngã đại ngã. Chữ ‘Đà’, nghĩa là một tâm tất cả pháp tịch tĩnh như như). Nói rất hay. Câu Phật hiệu阿彌陀佛 “A Mi Đà Phật” này, quý vị niệm, nếu quý vị hiểu được những ý nghĩa này, thì khi niệm sẽ có cảm ứng. Danh hiệu của A Mi Đà Phật cũng biểu Pháp, đều là từ một tâm lưu xuất ra, ban sơ vốn không sanh, vốn là không có ngã. “Ngã” nghĩa là gì? Trong Phật pháp nói, “ngã” có nghĩa là chủ tể. Thân không phải là ta, thân không thể làm chủ tể, nếu có thể làm chủ tể, thì ta hi vọng thân này, năm nào cũng 18 sẽ tốt biết bao, tại sao lại già đi, thân này không nghe lời? Vì vậy thân không phải là ta. Thế nào là ta? Tự Tánh là ta, Tự Tánh có thể sanh vạn pháp, Tự Tánh là chủ tể chân thật. Cho nên trong Phật pháp có Chân ngã, Chân ngã chính là Tự Tánh. Tự Tánh là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh: đầy đủ bốn ý nghĩa viên mãn này, ‘Thường’ là không sanh không diệt, ‘Lạc’ là không có khổ, ‘Ngã’ là chủ tể, ‘Tịnh’ là thanh tịnh không có ô nhiễm. Tứ đức của Tự Tánh, [là] Thường Lạc Ngã Tịnh. Tự Tánh là Chân ngã, Vô ngã là không có thân này, không có thân nhỏ bé này, thân là gì? Thân là toàn bộ vũ trụ, đại ngã. Một câu A Mi Đà Phật: ở trong đó đã đầy đủ nhiều ý nghĩa như thế.

Tiếp theo: 又阿字佛部義 “Hựu A tự, Phật Bộ nghĩa” (Lại nữa chữ ‘A’, nghĩa của Phật Bộ), trong Mật tông nói: 示理智不二法界體相故 “Thị lý trí bất nhị, Pháp giới Thể tướng cố” (Bởi vì biểu thị trí bên trong không hai, Thể tướng của Pháp giới). Những nội dung ở đây, trong tư liệu tham khảo của chúng ta đều có, với các đồng học mong muốn học tập mà nói, thì tìm tư liệu tham khảo. Tôi vẫn mong sao, nếu có duyên phận, thật sự có ba đến năm đồng tu: thật sự phát tâm Bồ-đề, tu học Pháp môn Tịnh tông, thì chúng ta đem Khoa Chú của bộ Kinh này, thật sự thực hiện tường tận một lần thâm nhập, không sợ thời gian dài, mất thời gian 5 năm, 10 năm đều không quan trọng, học tập thấu triệt bộ này, thì bộ Kinh này: sẽ có thể làm hưng thịnh Phật pháp trở lại. Bởi vì thật sự chuyên thông rồi, thì đều thông cả tám tông của Đại thừa, cũng thông luôn hai tông của Tiểu thừa, nên quý vị sẽ có năng lực dạy. Mong muốn học Thiên Thai, học Hoa Nghiêm, học Pháp Tướng, quý vị đều có thể dạy, một thông tất cả thông. Đó là khổ công mà thông, đó không phải là Đại triệt Đại ngộ, có thể, thật sự có thể làm như thế, chẳng phải là không thể làm. Mục tiêu cuối cùng, là tín nguyện trì danh, vãng sanh Tịnh Độ. Thảy đều làm thấu triệt rồi, thì mới đủ tín tâm, mới thật sự thành tựu tín nguyện, thành tựu điều kiện để vãng sanh. Bây giờ chúng ta chưa nắm chắc vãng sanh, bởi do nguyên nhân gì? Bởi không đủ tín nguyện, không thể nói không có, nhưng trong đó còn nghi vấn; Thật sự chuyên thấu rồi, thì sẽ không còn nghi vấn. Điều này đáng nên làm, chỉ cần công phu sâu, thì không gì không thành tựu.

Chữ ‘Mi’, phía trước chữ “A” là Phật Bộ, Phật Bộ trong Mật tông, 彌字蓮華部義。妙觀察智,生法二空 “Mi tự, Liên Hoa Bộ nghĩa. Diệu quán Sát trí, Sanh pháp Nhị không” (chữ ‘Mi’, nghĩa của Liên Hoa Bộ. Diệu quán Sát trí, Sanh pháp Nhị không), có thể sanh, được sanh đều không phải là thật, 實相本來不染六塵 “Thật tướng bổn lai bất nhiễm Lục trần” (Thật tướng vốn không nhiễm Lục trần), đó là thanh tịnh. 如蓮花故 “Như liên hoa cố” (Nên giống như hoa sen), cho nên gọi là Liên Hoa Bộ, hoa sen biểu thị sự thanh tịnh không nhiễm. 陀字,金剛部義。如來妙智,自性堅固,能破一切妄想怨敵故 “Đà tự, Kim Cang Bộ nghĩa. Như Lai diệu trí, Tự Tánh kiên cố, năng phá nhất thiết vọng tưởng oán địch cố” (Chữ ‘Đà’, nghĩa của Kim Cang Bộ. Như Lai diệu trí, Tự Tánh kiên cố, nên có thể phá trừ tất cả Vọng tưởng oán địch). Phá Vọng tưởng, diệu trí, có lẽ chúng ta có thể lãnh hội, làm sao để phá tan những oán thù ấy? Oan gia đối đầu mọi lúc luôn luôn đến gây phiền phức, tạo thành chướng ngại, diệu trí của A Mi Đà Phật có thể hóa giải, thật sự có thể hóa giải. Đến khi nào mới biết được? Khi quả báo hiện tiền thì biết được rồi. Những người oán thù ấy: khi nào mới biết quý vị là người tốt? Khi thọ mạng hết, quả báo hiện tiền, thì họ biết rồi; Họ biết rồi, sẽ sanh tâm hổ thẹn, đối với quý vị nhiều hiểu lầm như thế, hóa ra quý vị yêu thương bảo vệ họ. Người niệm Phật chúng ta, đối với sự việc này phải hết sức lưu ý, nhất định phải đem công đức tu hành của chính mình: hồi hướng cho oan thân trái chủ, giải bày oán kết một cách thân tình, đầu tiên là hóa giải oán cừu, cảm ơn những oan thân trái chủ. Quý vị kết oán với tôi, nhưng tôi không kết oán với quý vị, quý vị cho tôi là kẻ thù, nhưng tôi xem quý vị như Bồ-tát, thật sự là cách nghĩ như vậy, và cũng là cách làm như thế, hiện tại họ không biết, nhưng sau khi thọ mạng hết rồi, quả báo hiện tiền, thì họ biết rồi. Mỗi ngày chúng ta hồi hướng, đối với họ có lợi ích không? Có lợi ích, cho dù đọa đường ác, cũng sẽ được giảm bớt khổ báo phải chịu. Cho nên đến lúc đó sẽ không phải là oán thù, mà là họ cảm ơn, biết chúng ta là người tốt, cả đời hiểu lầm người tốt, cảm thấy có lỗi. Đức Phật có thể làm được.

Tiếp theo chúng ta xem, lại thêm một ý nghĩa, có rất nhiều giải thích, được sưu tập rất là tỉ mỉ. 又阿字,空義。一心 “Hựu A tự, Không nghĩa. Nhất tâm” (Thêm nữa chữ ‘A’, nghĩa là Không, nhất tâm), chữ ‘A’ là biểu thị nhất tâm, nhất tâm đây là Chân Tâm, Chân Tâm sao lại có nghĩa là Không? Chân Tâm là Thường Tịch Quang, một vùng ánh sáng, không lúc nào không có, không nơi nào không có, không có hiện tượng vật chất, không có hiện tượng tinh thần, cũng không có gì gọi là hiện tượng tự nhiên, không có hiện tượng, lục căn của chúng ta không duyên đến được, không thấy được, không nghe được, đó không có âm thanh, cũng không có mùi vị, quý vị cũng không nghe được, vì không thể cảm nhận, thế nên dùng một chữ ‘Không’. ‘Không’ đây không thể nói là không có, ‘Không’ chẳng thể xem như không có nói, Không [và] Có, cho nên Chân không bất không, Diệu hữu chẳng phải có. Kế tiếp còn giải thích một câu: 一心法體本自虛妄相空無故 “Nhất tâm Pháp thể bổn tự hư vọng tướng Không vô cố” (Bởi vì Pháp thể của nhất tâm vốn tự hư vọng tướng Không không có).

彌字,假有義。一心平等,諸法如幻假有故 “Mi tự, giả hữu nghĩa. Nhất tâm bình đẳng, chư pháp như huyễn giả hữu cố” (Chữ ‘Mi’, nghĩa là giả có. Bởi sự bình đẳng của nhất tâm, nên các pháp như ảo không thật có), đây chính là Tự Tánh có thể sanh vạn pháp. Hoàn cảnh cư trú của chúng ta hiện nay, Chánh báo là thân thể này, thân thể là giả có, sanh diệt trong sát-na, không phải là thật, phải nhìn thấu điều này; Hoàn cảnh mà chúng ta nương vào để sinh tồn, cũng là giả có, kể cả núi sông đất đai, đều không phải là thật. Thân có sanh lão bệnh tử, thực vật có sanh trụ dị diệt, khoáng vật (bao gồm trái đất) có thành trụ hoại không, ‘như huyễn không thật có’, không phải là có thật. Không phải là có thật, Phật dạy cho chúng ta buông xuống, đừng để ở trong tâm, phải để điều thật vào trong tâm, giả thì thảy đều buông xuống. Điều gì là thật? A Mi Đà Phật là thật, câu danh hiệu này là thật. Quý vị để câu Phật hiệu này vào trong tâm, đúng rồi, cho dù không thể Minh tâm Kiến tánh, thì cũng bảo đảm quý vị vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc: thân cận A Mi Đà Phật. Đến Thế giới Cực Lạc, cảnh giới của 51 bậc Bồ-tát: sẽ rất dễ dàng tu thành, không khó, bảo đảm quý vị viên mãn quả vị Diệu giác, khó được biết bao! Chúng ta gặp được cơ hội này rồi, đáng để vui mừng, đáng để hoan hỉ. Tâm hoan hỉ ấy lưu xuất ra, hết thảy tất cả lo lắng, như oán giận, đều không còn nữa, một chổi quét sạch, pháp hỉ sung mãn. Pháp hỉ đó, hiện tiền sẽ mang lại cho chúng ta: thân thể khỏe mạnh trường thọ, ít bệnh ít não, ‘não’ là phiền não, ít phiền não, ít bệnh tật.

Tiếp theo, lại thêm chữ ‘A’, đó là nghĩa của Không. Chữ ‘Mi’, nghĩa là giả có. ‘Một tâm bình đẳng, nên các pháp đều như ảo không thật có’. 陀字,中道義。一心平等,諸法離二邊,無定相可得故 “Đà tự, Trung đạo nghĩa. Nhất tâm bình đẳng, chư pháp li nhị biên, vô định tướng khả đắc cố” (Chữ ‘Đà’, nghĩa là Trung đạo. Bởi sự bình đẳng của nhất tâm, các pháp rời nhị biên, nên không có tướng cố định có thể đạt được). Sau đó còn giải thích rằng: 又阿字,有義。一心體相,本有不生,無滅盡故 “Hựu A tự, Hữu nghĩa. Nhất tâm thể tướng, bổn hữu bất sanh, vô diệt tận cố” (Chữ ‘A’, nghĩa là Có. Bởi thể tướng của nhất tâm, vốn có không sanh, nên không có diệt tận), ý nghĩa của chữ “Hữu” (Có) này sâu, phía trước đã nói nghĩa của Không, chưa nói đến nghĩa của Hữu, nói Không rồi, Không và Hữu là một ý nghĩa, Hữu và Không cũng là cùng một ý nghĩa. ‘Chân không bất Không, Diệu hữu phi Hữu’, nghĩa của chữ Hữu này chính là ‘Chân không bất Không’, ‘bất Không’ chính là Có; ‘Diệu hữu phi Hữu’, ‘phi Hữu’ chính là Không, cho nên Không [và] Hữu là một không phải hai, vậy mới viên dung. ‘Thể tướng của nhất tâm, vốn có không sanh’, cho nên hoàn toàn nói Tự Tánh chính là Tánh đức, khi có duyên thì hiện, hiện đó thì không thể nói là sanh, vì sao vậy? Vốn có, [nên] hiện; Không còn duyên nữa thì không hiện, không hiện thì không thể nói là diệt, đó là không sanh không diệt, vừa có duyên, lại sanh lại hiện thôi. Nếu xưa nay Tự Tánh không có, thì sao lại hiện ra? Tự Tánh hiện rất nhanh, ngay trong một niệm, hiện điều gì? Hiện tất cả vũ trụ. Cũng giống như hình ảnh trên màn hình tivi của chúng ta, chúng ta vừa bấm kênh lập tức hiển hiện ngay, hiển hiện là viên mãn, sẽ không còn một khoảng trống nào trong đó, đó là viên mãn. Tướng được hiện đó, không phải là tướng nhất định, mà là thiên biến vạn hóa, chúng ta cũng có thể nói: căn bản là không có hai tướng nào là hoàn toàn tương đồng. Phạm vi sinh sống của chúng ta quá nhỏ, dường như mỗi ngày đều không khác lắm; Nếu quý vị xem toàn bộ trái đất thì sẽ khác, thay đổi sẽ lớn thôi; Nếu xem toàn bộ hư không, thay đổi sẽ càng lớn hơn. Sau đó chúng ta quay lại: lắng lòng để xem lời trong kinh Phật, mỗi câu đều là chân thật không hư dối, trong kinh giảng quá hay rồi, đã giảng quá rõ ràng, quá sáng tỏ, ‘vốn có không sanh’. 彌字,空義。一心諸法,自性不可得故 “Mi tự, Không nghĩa. Nhất tâm chư pháp, Tự Tánh bất khả đắc cố” (Chữ ‘Mi’, nghĩa là Không. Bởi tất cả pháp của một tâm, nên Tự Tánh không thể đạt được), một tâm hiện tất cả pháp, Tự Tánh không thể đạt được. Tự Tánh không thể nói không có, mà có, nhưng sáu căn của chúng ta đều không duyên đến được, cho nên nói ‘bất khả đắc’. 陀字,不空義,一心諸法 “Đà tự, bất Không nghĩa, nhất tâm chư pháp” (Chữ ‘Đà’, nghĩa là bất Không, tất cả pháp của một tâm), hai chữ一心 “nhất tâm” (một tâm) được dùng ở đây rất hay, thảy đều là từ ‘một tâm’ hiện ra, 本來法身功德,無斷絕故 “bổn lai Pháp thân công đức, vô đoạn tuyệt cố” (bởi công đức Pháp thân vốn có, nên không có đoạn dứt). Pháp thân chính là Thường Tịch Quang, Thường Tịch Quang mãi mãi tồn tại, Thường Tịch Quang mãi mãi không có biến hóa, tướng của Thường Tịch Quang hiện là huyễn tướng, có ẩn có hiện, không có sanh diệt.

又阿字,因義。佛界眾生,因一心覺,因一心迷故 “Hựu A tự, nhân nghĩa. Phật giới chúng sanh, nhân nhất tâm giác, nhân nhất tâm mê cố” (Thêm nữa chữ ‘A’, nghĩa là ‘do’. Phật giới chúng sanh, do bởi một tâm giác, do bởi một tâm mê). Một tâm giác chính là Phật, cảnh giới của Phật, một tâm mê chính là chúng sanh, chỉ có mê ngộ, Phật và chúng sanh đều là giả danh. Một tâm giác là chân, một tâm mê là giả, vì sao vậy? Vì mê có thể quay trở về giác ngộ, quan trọng chính là nhất tâm. Chỗ khó khăn trong việc học kinh Phật của chúng ta ngày nay, chính là chúng ta không biết dùng nhất tâm, mà chúng ta dùng hai tâm, ba tâm, cho nên gọi là ‘tam tâm nhị ý’. Nói tam tâm nhị ý là thế nào? Nói tam tâm chính là A-lại-da, Mạt-na, Ý thức, đó là tam tâm; Nhị ý chính là nói Mạt-na và Ý thức, Mạt-na là ý căn, Thứ sáu là Ý thức, nhị ý. Dùng A-lại-da, Vọng tâm, tam tâm nhị ý là Vọng tâm, nhất tâm là Chân Tâm. Một tâm, không dùng tam tâm nhị ý. Có giác, có mê, mê rồi là chúng sanh, chúng sanh đây là bao gồm thực vật, khoáng vật, đều bao gồm tất cả; Sau khi giác ngộ, như cõi Thật Báo Trang Nghiêm, đó là Giác ngộ, những gì được thị hiện là thân Pháp tánh, cõi nước cư trú là cõi Pháp tánh, một tâm giác hiện ra, hoàn toàn khác với một một tâm mê. Tiếp đó nói: 彌字,行義。斷人法二我 “Mi tự, hành nghĩa. Đoạn Nhân Pháp nhị ngã” (Chữ ‘Mi’, nghĩa là hành. Đoạn dứt hai ngã của Nhân [và] Pháp), Nhân ngã, Pháp ngã đều là mê, đoạn sạch mê rồi, 證生法不空 “chứng Sanh pháp Bất không” ([thì] chứng Sanh pháp Bất không) Thật tướng của các pháp sẽ hiện tiền. ‘Chứng Sanh pháp Bất không’, vốn có trong Tự Tánh, lời này chính là do Đại sư Huệ Năng nói: 何期自性,本自具足 “Hà kỳ Tự Tánh, bổn tự cụ túc” (Nào ngờ Tự Tánh, vốn tự đầy đủ), cho nên có thể sanh, có thể sanh là bất Không, ‘bất Không’ đây là Diệu hữu, Diệu hữu cũng gọi là chẳng phải Có. Chẳng phải Có mà Có, chẳng phải Không mà Không, chân tướng sự thật, thẳng đến quả vị Phật. 陀字,果義。示不二一心如如理智,是則佛果故。如是差別法門,即名字相 “Đà tự, quả nghĩa. Thị bất nhị nhất tâm như như lý trí, thị tắc Phật quả cố. Như thị sai biệt Pháp môn, tức Danh tự tướng” (Chữ ‘Đà’, nghĩa là quả. Bởi biểu thị trí bất nhị nhất tâm như như lý, nên đó là quả vị Phật. Pháp môn khác biệt như thế, là Tướng danh tự). Những điều này đều là danh từ thuật ngữ, được nói nhiều như thế. Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận nhắc nhở chúng ta: phải lìa Tướng danh tự, phải biết Tướng danh tự nghĩa là gì? Là không chấp trước, không phân biệt, sau khi biết rồi, buông xuống Phân biệt Chấp trước, thì đúng rồi. Không buông xuống Phân biệt Chấp trước, thì quý vị dính tướng rồi, quý vị dính vào Tướng danh tự. Chấp trước Tướng danh tự, sẽ không thấy được Thật tướng, vẫn là mê, chưa ngộ; Buông xuống Tướng danh tự, thì ngộ thôi.

Tiếp theo là tổng kết: 又如是字相,互無定相 “Hựu như thị Tự tướng, hỗ vô định tướng” (Thêm nữa Tướng danh tự như thế, không có tướng cố định lẫn nhau), không có nhất định, nói thế nào cũng được, đều là do Phật thuyết. Đức Phật vì tất cả chúng sanh mà thuyết, đối tượng khác nhau, thuyết pháp khác nhau; Hoặc đối tượng giống nhau, nhưng thời tiết nhân duyên khác nhau, nơi chốn khác nhau, cũng đều sẽ thuyết pháp khác nhau. Phật thuyết pháp, chỉ có một mục đích, là để giúp chúng sanh giác ngộ. Đức Phật biết, sử dụng phương pháp vô cùng xảo diệu, quý vị vừa tiếp xúc, liền khoát nhiên Đại ngộ. Đó là duyên phận như thế nào? Quý vị sắp khai ngộ rồi, chỉ thiếu một chút nữa thôi, đức Phật sẽ có cách giúp quý vị, khiến quý vị Đại triệt Đại ngộ. Nếu quý vị chưa đến mép rìa đó, quý vị còn mê rất sâu, rất chấp trước, vậy thì Phật sẽ giảng cho quý vị những kinh này, từ từ dẫn dắt quý vị, quý vị cách sự giác ngộ quá xa. Pháp mà Phật thuyết là diệu pháp. Vì vậy, Phật không có định pháp có thể nói. Đức Phật thuyết pháp, ghi nhớ, không có Khởi tâm Động niệm. Ngôn hành cử chỉ của chúng ta: thảy đều có Khởi tâm Động niệm, đó chính là mê, đó gọi là Vô minh, căn bản Vô minh, chính là Khởi tâm Động niệm, quá vi tế rồi, chính mình không biết. 如帝網珠,不可取捨 “Như Đế võng châu, bất khả thủ xả” (Như hạt châu trên lưới trời Đế Thích, không thể lấy hay bỏ), đây là tỷ dụ, ‘Đế’ là chỉ trời Đao lợi, những tấm lưới được treo phía trên cung điện của chủ trời Đao Lợi, những tấm lưới ấy, giữa các tấm lưới đều có hạt châu, hạt châu sẽ phát sáng, hạt châu được treo ở nơi đó không thể lấy hay bỏ, là do phước báo của trời Đế Thích mà thành tựu. Tại sao vậy? 一心平等,不可得故 “Nhất tâm bình đẳng, bất khả đắc cố” (Bởi một tâm bình đẳng, nên không thể đạt được), kết luận này rất hay.

又曰:是故唱阿彌陀三字,滅無始重罪 “Hựu viết: Thị cố xướng A Mi Đà tam tự, diệt vô thỉ trọng tội” (Lại nói rằng: Vì thế xướng lên ba chữ A Mi Đà, diệt tội nặng từ vô thỉ). ‘Xướng’ là gì? Là đọc ra tiếng. Công đức của câu Phật hiệu này, chúng ta thường hay nghe nói, thường xuyên thấy được不可思議 “bất khả tư nghì” (không thể nghĩ bàn), về ý nghĩa của ‘bất khả tư nghì’: thì chúng ta rất mơ hồ, có thể diệt trừ tội nặng từ vô thỉ, vậy thì tội trong hiện tại có thể tiêu trừ không? Có thể tiêu trừ, thế sao lại không thể tiêu trừ? Vấn đề ở đâu? Quý vị không chịu niệm, quý vị không biết lợi ích đó, niệm vài tiếng thì quên mất rồi, trong tâm quá nhiều Vọng niệm, quá nhiều tạp niệm, Phật hiệu không thể liên tục. Những Vọng tưởng, tạp niệm đó đang tạo tội nghiệp, tạo thì nhiều, mà niệm thì ít, nên tội nặng không thể tiêu trừ. Vậy phải niệm thế nào? Không tạo tội nghiệp nữa, tôi chuyên niệm Phật thôi, tôi đem Vọng tưởng tạp niệm thảy đều buông xuống, vậy sẽ rất hữu hiệu trong việc tiêu trừ trọng tội. Từ đâu mà thấy? Từ tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh hiện tiền, thì tội nặng đã tiêu trừ, có trọng tội, thì tâm không thanh tịnh, tâm không bình đẳng.

Tiếp theo nói: 念阿彌陀一佛,成無終福智 “Niệm A Mi Đà nhất Phật, thành vô chung phước trí” (Niệm một vị Phật A Mi Đà, thành tựu phước báo trí huệ không có cùng tận), ‘thành’ là thành tựu, ‘vô chung’ là phước báo, trí huệ không có chỗ cùng tận. Tại sao quý vị không chịu niệm? Pháp môn Tịnh Độ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với chúng ta, chỉ niệm một vị A Mi Đà Phật, chỉ niệm một vị Phật. Một câu Phật hiệu, một bộ Kinh, suốt đời không thay đổi, thì chẳng ai mà không thành Phật. Thí dụ tiếp theo là: 如帝網一珠,頓現無盡寶珠 “Như Đế võng nhất châu, đốn hiện vô tận bảo châu” (Như một hạt châu trên lưới trời Đế Thích, bỗng xuất hiện vô tận hạt châu báu), mỗi hạt châu báu đều phát sáng, trong mỗi hạt có tất cả các hạt, hình ảnh đều ở trong đó, cho nên hiện vô tận hạt châu báu. Mỗi hạt châu đó thí như một vị Phật Mi Đà, ta niệm vị Phật ấy, bằng với mười phương ba đời tất cả chư Phật Như Lai, ta thảy đều niệm đến được rồi. Phật Phật tương ưng, Phật Phật một Pháp thân, Phật Phật là một Thể, cho nên một vị Phật Mi Đà: mau chóng viên mãn vô biên Tánh đức. Vô biên Tánh đức, chính là năm câu mà Đại sư Huệ Năng nói với chúng ta, thanh tịnh, không sanh không diệt, vốn tự đầy đủ. Vô biên Tánh đức, một câu Phật hiệu là viên mãn rồi.

Ở trên đều là những điều được nói trong sách Bí Thích, của Tổ sư Tịnh tông của Nhật Bản, 頓開諸佛秘藏,直顯持名一法,攝蓋一切法功德。專念彌陀,即可迅速圓滿自性本具之無邊妙德。如上妙諦,直示佛之知見 “Đốn khai chư Phật Bí tạng, trực hiển trì danh nhất pháp, nhiếp cái nhất thiết pháp công đức. Chuyên niệm Mi Đà, tức khả tấn tốc viên mãn Tự Tánh bổn cụ chi vô biên diệu đức. Như thượng diệu đế, trực thị Phật chi tri kiến” (Bỗng khai mở Bí tạng của chư Phật, thẳng hiển bày một pháp trì danh, thu nhiếp trùm lấy tất cả pháp công đức. Chuyên niệm đức Mi Đà, thì có thể nhanh chóng viên mãn vô biên diệu đức vốn có trong Tự Tánh. Như diệu đế trên, thẳng chỉ bày tri kiến của Phật), thật sự không thể nghĩ bàn. Đại đức của Tịnh tông Nhật Bản, sau khi các ngài học từ Trung Hoa trở về, đã lập tông ở Nhật Bản, mười mấy tông phái, đều là tông Tịnh Độ, đều lấy Đại sư Thiện Đạo làm Sơ tổ, Tổ sư của các ngài đều là đời thứ hai, Đại sư Thiện Đạo là đời thứ nhất. Rất khó được, không quên cội nguồn, đó là điều mà chúng ta thấy được ở Nhật Bản. Đối với Tổ sư, người Nhật Bản vô cùng xem trọng, điện thờ Tổ sư cao và to hơn điện thờ Phật, tượng Tổ sư cao lớn hơn tượng Phật. Tượng Phật không lớn, tượng Tổ sư lớn, vì sao vậy? Bởi không có Tổ sư, thì làm sao biết có Phật chứ? Quý vị biết có Phật, quý vị đạt được lợi ích của Phật pháp, đầu tiên là Tổ sư, là thầy. Không có thầy, quý vị làm sao biết được? Thế nên tượng được đặt ở Phật đường không lớn, quý vị vào trong điện Tổ sư xem, hầu hết gần như: có dáng vẻ to như người thật vậy, người không quên cội nguồn.

Bây giờ xã hội Nhật Bản cũng động loạn, nguyên nhân là gì? Đã vứt bỏ văn hóa truyền thống rồi. Pháp sư của họ nói với tôi, 400 năm trước, tự viện am đường của Nhật Bản cũng là giảng kinh dạy học, từ sau khi tiếp nhận văn hóa phương Tây, thì họ đã xa rời văn hóa truyền thống, 400 năm Tây hóa: biến thành xã hội như ngày nay. Điều này đã đáng để chúng ta sâu sắc phản tỉnh, làm sao có thể nói truyền thống không tốt? Truyền thống ở khu vực này, mấy ngàn năm an định hài hòa, chỉ sau khi vừa mất đi, lập tức liền xuất hiện vấn đề. Trung Hoa mất đi 150 năm, Nhật Bản đã đánh mất rồi, họ nói với tôi, là 400 năm, họ tiếp xúc với nước ngoài sớm hơn chúng ta. Chúng ta nên tin tưởng lời mà ông Joseph Toynbee nói, ông ấy là người nước Anh, nghiên cứu rất triệt để về văn hóa Trung Hoa, trong người Trung Hoa: cũng không tìm được người nào giống như ông, đó là một người cả đời chuyên nghiên cứu lịch sử văn hóa thế giới. Ông ấy chia văn hóa toàn thế giới: thành hơn 20 loại khác nhau, ưu tú nhất là văn hóa truyền thống Trung Hoa, ông ấy gọi là văn minh Đông Á, còn có ba nước vệ tinh, là Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Văn hóa của ba nước ấy: đều là văn hóa nước ta, chính bản thân họ chưa có, hoàn toàn là của nước ta, ngay cả chữ viết cũng là văn tự của nước ta. Sau Thế chiến thứ hai, Hàn Quốc, Việt Nam tự mình sáng tạo chữ viết, hồi trước đó, thời đại trong Thế chiến thứ hai, họ dùng toàn bộ là chữ Hán Văn ngôn văn. Vì vậy chúng ta đến những khu vực này, dù là đến Nhật Bản cũng như nhau, không thông thạo lời nói, nhưng viết chữ đều thông. Ông Joseph Toynbee nói, nếu bốn đất nước này đoàn kết với nhau, thì có thể lãnh đạo toàn thế giới. Rất có đạo lý.

Vì vậy ở đây Niệm lão nói với chúng ta, ‘chuyên niệm đức Mi Đà, thì có thể nhanh chóng viên mãn vô biên diệu đức vốn có trong Tự Tánh. Như diệu đế trên, thẳng chỉ bày tri kiến của Phật’, trực tiếp chỉ bày tri kiến của Phật cho chúng ta, trong Kinh Pháp Hoa nói: 正顯此法,實是 “Chánh hiển thử pháp, thật thị” (Chính là hiển bày pháp này, thật sự là), vô cùng thật sự là, 一切世間難信之法 “nhất thiết thế gian nan tín chi pháp” (pháp khó tin trong tất cả thế gian). Vì sao khó tin? Tôi nói một câu, bởi không có phước báo. Vì sao không có phước báo? Vì không có trí huệ. Có trí huệ, có phước báo, vừa nghe sẽ tiếp nhận ngay. Trí huệ và phước báo, không hề liên quan đến việc biết chữ hay đi học. Chúng ta thấy được có một người, vừa nghe liền tiếp nhận rồi, là lão Hòa thượng Hải Hiền. Người thanh niên 20 tuổi, nông dân ở dưới quê, chưa từng đi học, không biết chữ, 20 tuổi xuất gia, Sư phụ nhìn đúng ngài rồi, chỉ dạy cho ngài một câu Nam Mô A Mi Đà Phật, hãy một mực mà niệm. Ngài sống đến 112 tuổi, đã niệm câu Phật hiệu này 92 năm. Ngài làm được, ngài tin tưởng, người thông thường chúng ta không tin, người tin tưởng như thế: là có trí huệ, có phước đức, người không có trí huệ, không có phước đức sẽ không tin. Từ đó có thể biết, người mà thật sự tin tưởng tiếp nhận, ngày ngày cầm tràng hạt niệm Phật không buông tay, thì người đó, có đại phước báo, có đại trí huệ, họ vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc, không gì không biết, không gì không thể.

Câu tiếp theo: 又《阿字觀》曰:自阿字出一切陀羅尼,自一切陀羅尼生一切佛。佛號中一個阿字功德如是,故佛號之功德不可思議,明矣。 “Hựu A Tự Quán viết: Tự A tự xuất nhất thiết Đà-la-ni, tự nhất thiết Đà-la-ni sanh nhất thiết Phật. Phật hiệu trung nhất cá A tự công đức như thị, cố Phật hiệu chi công đức bất khả tư nghì, minh hĩ.” (Thêm nữa trong sách A Tự Quán nói: Từ chữ A sanh ra tất cả Đà-la-ni, từ tất cả Đà-la-ni sanh ra tất cả Phật. Công đức của chữ A này trong Phật hiệu cũng như vậy, cho nên công đức Phật hiệu không thể nghĩ bàn, sáng tỏ thay!) Chữ A, chúng ta bàn về âm thanh, đó là nguyên âm đầu tiên, mở miệng ra, A. Quý vị xem chữ viết nước ngoài, chữ viết ghép vần, chữ cái đầu tiên là chữ A. Từ chữ A sanh ra tất cả Đà-la-ni, Đà-la-ni: chính là chú ngữ mà trong kinh Phật nói, trong Mật tông. Mật tông rất chú trọng đối với chữ “A” này, cho rằng chữ A này là vô cùng thần thánh. Tất nhiên chữ A là nguyên âm đầu tiên của tiếng Phạn, tất cả văn tự đều không tách rời khỏi chữ này, nguyên âm đầu tiên. ‘Từ tất cả Đà-la-ni sanh ra tất cả chư Phật’, do Đà-la-ni mà khai ngộ. Phật là gì? Là giác ngộ, chúng sanh giác ngộ thì được xưng là Phật. Một câu Đà-la-ni có thể khai ngộ không? Có thể. Vì sao bây giờ: người trì chú không thể khai ngộ? Bởi họ không phải là lão Hòa thượng Hải Hiền, nếu là lão Hòa thượng Hải Hiền, thì một câu A Mi Đà Phật cũng là chú ngữ, cũng là Đà-la-ni, ngài có thể khai ngộ, ngài có thể Đại triệt Đại ngộ, Minh tâm Kiến tánh. Từ đây có thể biết, tất cả thần chú đều có hiệu quả như vậy, vấn đề chính là quý vị không biết niệm. Vậy phải niệm thế nào? Niệm với tâm thanh tịnh, khi niệm: không thể có Vọng tưởng, không thể có tạp niệm, mới có thể sinh ra hiệu quả. Hiệu quả đó là gì? Trị bệnh, trị những căn bệnh Khởi tâm Động niệm, Vọng tưởng Phân biệt Chấp trước của chúng ta. Tất cả pháp mà đức Phật dạy cho chúng ta trong 49 năm, đều là để trị bệnh cho chúng ta, bất cứ một bộ kinh nào, bất cứ một câu chú nào, danh hiệu của Phật Bồ tát nào, cũng đều có thể giúp chúng ta trị bệnh, chỉ cần chúng ta biết niệm, chịu niệm, thì vấn đề nào cũng có thể hóa giải. Không chịu niệm, vậy thì không còn cách nào. Niệm không nghiêm túc, không chịu buông xuống, vậy thì rất khó, quá khó rồi.

Chúng ta xem đoạn tiếp theo:『成佛以來於今十劫』 “Thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp” (Thành Phật đến nay, mới hơn mười kiếp), đây là văn kinh. A Mi Đà Phật thành Phật ở Thế giới Cực Lạc, đến hiện tại là 10 kiếp, 10 kiếp là thời gian rất dài, nhưng, nếu là ở trong Hư không Pháp giới mà nói, thì 10 kiếp rất ngắn. Thường nói vô lượng kiếp, 10 kiếp rất ngắn. Thông thường nói 10 kiếp, không có nói Trung kiếp hay Tiểu kiếp, thì đó là Đại kiếp. Đại kiếp, là một lần thành trụ hoại không: của Thế giới này (Đại thiên Thế giới), gọi là một Đại kiếp. 10 kiếp, tức là Thế giới này của chúng ta: (Thế giới Ta Bà) đã 10 lần thành trụ hoại không. Thông thường nói Tiểu kiếp, cũng có rất nhiều cách nói khác nhau, thường được dùng nhất là tuổi thọ của người. Đức Phật nói thọ mạng của người, khi ngắn nhất là 10 tuổi, mỗi 100 năm tăng thêm một tuổi, tăng đến 84 ngàn tuổi, 84 ngàn là thọ mạng cao nhất của người; Lại từ 84 ngàn tuổi, mỗi 100 năm giảm một tuổi, giảm xuống còn 10 tuổi, một tăng một giảm như vậy gọi là Tiểu kiếp. 20 Tiểu kiếp là một Trung kiếp, bốn Trung kiếp là một Đại kiếp, đây là thông thường được nói nhiều hơn. Cách nói trong kinh không như nhau, nói chung, thời gian ấy khá dài, thời gian của Đại kiếp rất dài. 表四十八願圓滿成就成等正覺號阿彌陀佛 “Biểu tứ thập bát nguyện viên mãn thành tựu, thành Đẳng Chánh Giác, hiệu A Mi Đà Phật” (Biểu thị sự thành tựu viên mãn của 48 nguyện, thành Đẳng Chánh Giác, hiệu A Mi Đà Phật). Từ ngài Pháp Tạng thành Phật, đến lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh, đã trải qua 10 kiếp, đây là một cách nói.

Về A Mi Đà Phật, phía trước chúng ta đã học qua lịch sử về Ngài, đó cũng là kiếp lâu xa về trước, Ngài làm Quốc vương, vị Quốc vương ấy đã làm rất tốt, mọi người đều ca ngợi Ngài là世饒王 “Thế Nhiêu Vương”, là vị Quốc vương tốt, lão bá tánh đều hưởng phước từ Ngài. Ngài nghe đức Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai thuyết pháp, đã giác ngộ, nhường ngôi vua cho người khác, xuất gia tu hành, với Pháp danh là Pháp Tạng, là Tỳ-kheo Pháp Tạng, tiền thân của A Mi Đà Phật. Ngài vô cùng từ bi, thương cảm tất cả chúng sanh khổ nạn, hi vọng giúp những chúng sanh khổ nạn ấy, đặc biệt là trong Lục đạo Luân hồi, luân hồi rất không dễ gì ra khỏi. Ngài độ chúng sanh, giúp chúng sanh khổ nạn, do đó lục đạo là mục tiêu trung tâm, ưu tiên được độ hàng đầu: là chúng sanh khổ nạn trong sáu đường. Phát nguyện vì những chúng sanh khổ nạn ấy: kiến lập một đạo tràng, thỉnh giáo với thầy của Ngài. Thầy khích lệ Ngài, tán thán Ngài, dạy cho Ngài phương pháp, con đi khảo sát, tham quan tất cả cõi nước chư Phật trong mười phương, con cảm thấy là tốt, cần thiết, thì con học tập, chọn lấy, cảm thấy không tốt thì con không cần, giữ sở trường của người, bỏ sở đoản của người, sau này con kiến lập đạo tràng: nhất định sẽ thù thắng. Ngài thật làm, đã dành thời gian năm kiếp để làm công việc khảo sát ấy, rút ra một kết luận chung, chính là 48 nguyện. 48 nguyện: là ưu điểm của tất cả cõi nước chư Phật, khuyết điểm thì không được. Quý vị xem nguyện đầu tiên: 國無惡道 “Quốc vô ác đạo” (Cõi nước không có đường ác), mười phương đều có sáu đường luân hồi, cõi Phàm Thánh Đồng Cư của Thế giới Cực Lạc: có hai đường trời [và] người, không có A-tu-la, không có ba đường ác, quý vị xem sự lựa chọn của Ngài. Thân tướng của người khác nhau, tướng mạo tốt thì sanh phiền não, sanh ra điều gì? Ngạo mạn, cảm thấy ưu việt, tướng mạo không tốt thì sanh ra tự ti mặc cảm, đều mang đến phiền não cho người. Thế phải làm sao? Tướng mạo ở Thế giới Tây Phương Cực Lạc thảy đều như nhau, bình đẳng, tuyệt diệu vô cùng, đều giống như A Mi Đà Phật, vóc dáng cũng như vậy, tướng mạo cũng như thế. Vậy giữa người với người làm sao để nhận ra nhau? Khi người ở cùng nơi với Phật, chúng ta không phân biệt được đâu là người, đâu là đức Phật, cũng không sao, vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc, thì ai nấy đều có Thiên nhãn, giống như Thiên nhãn của Phật, tuyệt đối sẽ không nhận lầm người; Chẳng những nhận ra quý vị, mà còn nhìn ra được trong đời quá khứ của quý vị, đời đời kiếp kiếp, quý vị ở đường nào, quý vị ở cõi nước Phật nào, đều biết rõ, thù thắng như thế! Vì vậy, theo lý tưởng của 48 nguyện, sáng lập Thế giới Tây Phương Cực Lạc, trên thật tế Thế giới Cực Lạc chính là một đạo tràng, ở đó chỉ có hai dạng người, một là A Mi Đà Phật, là thầy, ngoài ra tất cả đều là học trò, là trường học, hoàn cảnh sinh sống, nơi chốn tu học lý tưởng thù thắng nhất, mà Ngài đã dành tặng. Đó là 10 kiếp, từ ngài Pháp Tạng thành Phật: đến đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh, đã trải qua 10 kiếp, thời gian dài như thế.

Tiếp theo nói: 但應著眼 “Đãn ưng trước nhãn” (Hãy nên chú ý), chúng ta phải chú ý, 10 kiếp ở chỗ này, 正是為酬願度生示現之事相 “chính thị vị thù nguyện độ sanh thị hiện chi Sự Tướng” (chính là Sự Tướng thị hiện vì thực hiện nguyện độ sanh). Mở lớp dạy học, thực hiện bổn nguyện của Ngài, giúp chúng sanh lìa khổ được vui, thoát khỏi Lục đạo mười Pháp giới, rời rốt ráo khổ; Trở về Tự Tánh, trở về Thường Tịch Quang, là cứu cánh vui. Sự nghiệp ấy quá vĩ đại, cảm được chư Phật tán thán đối với Ngài, xưng Ngài là: 光中極尊、佛中之王 “Quang trung cực tôn, Phật trung chi vương” (Tôn quý nhất trong các ánh sáng, vua trong chư Phật). Cho nên đó là ‘sự tướng thị hiện để thực hiện nguyện độ sanh’, 此乃一期應機之權 “thử nãi nhất kỳ ứng cơ chi Quyền thuyết” (đây là giai đoạn Quyền thuyết vì ứng cơ), là trong lần đó Ngài phát đại nguyện này, giống như mở trường học, là cách nói như thế. Nhưng trên thật tế, 若究其實 “nhược cứu kỳ thật” (nếu truy cứu sự thật ấy), thì thật sự đức Mi Đà 久已成佛 “cửu dĩ thành Phật” (đã thành Phật từ lâu). Trong quá khứ Ngài đã mở rất nhiều trường học, Thế giới Cực Lạc là một trường học đặc biệt, giúp người thật sự chịu tin tưởng, hoàn toàn nương vào Phật lực, nương vào 48 nguyện, không phải dựa vào chính mình, mà là toàn bộ nhờ Phật lực, một Pháp môn như thế. Có đạo lý hay không? Có đạo lý, đạo lý gì? Bởi vì tất cả chúng sanh xưa nay là Phật, cho nên Ngài có thể gia trì đến được. Nếu không phải là Phật, vậy thì một chút biện pháp cũng không có rồi. Xưa nay là Phật, một niệm mê hoặc không may đọa lạc vào Mười pháp giới: tạo tác tội nghiệp cực nặng, chỉ cần họ giác ngộ, thì có thể quay đầu, A Mi Đà Phật dùng phương pháp xảo diệu này, khiến họ nhanh chóng thành tựu, mà không cần phải tu hành trong vô lượng kiếp.

彌陀即大日如來 “Mi Đà tức Đại Nhật Như Lai” (Đức Mi Đà chính là đức Đại Nhật Như Lai), ở trước từng nói qua, phía trước đã dẫn chứng: điều mà trong Kinh Đại Thừa Mật Nghiêm nói. Cho nên hiện tại: Ngài thị hiện thành Phật ở Thế giới Tây Phương Cực Lạc, cũng giống như Ứng hóa thân của đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở Thế giới của chúng ta, ở trong đại vũ trụ: Ngài làm ra một lần Ứng hóa, Ứng hóa thân với quy mô vô cùng lớn. Mục đích là gì? Mục đích là để thực hiện nguyện độ sanh, Ngài từng phát qua đại nguyện này. Cho nên nói: A Mi Đà Phật giống như là nhà giáo dục, Ngài từng mở qua rất nhiều trường học, Thế giới Cực Lạc: là một trường học mới được mở gần đây, là một Hiệu trưởng lâu năm, kinh nghiệm vô cùng phong phú, đến tiếp dẫn chúng ta, chúng ta có duyên phận đặc biệt với Ngài. Thật tế mà nói, với mỗi một vị Phật, mỗi một vị Bồ-tát, Ngài đều có duyên phận đặc biệt. Cho nên đạo tràng ấy rất náo nhiệt, người đến đi qua lại tấp nập không dừng, đã tốt nghiệp ở nơi đó, đến mười phương Thế giới giáo hóa chúng sanh, ra bên ngoài rồi, mỗi ngày có rất nhiều người tiến vào, vãng sanh đến. Ngày nào cũng có người tốt nghiệp đi ra, ngày nào cũng có người tiến vào, Ngài phải hóa vô lượng vô biên thân để tiếp dẫn, tốt nghiệp ra bên ngoài, các ngài có thể không thưa hỏi, đến mười phương Thế giới nơi có duyên với các ngài, thị hiện Tám tướng Thành đạo, để hóa độ chúng sanh, nhưng từng li từng tí: A Mi Đà Phật đều biết, đều rõ ràng.

Máy tính của chúng ta ngày nay: không thể sánh với bộ vi xử lý của Bồ-tát, bộ vi xử lý của Bồ-tát: chính là máy tính số một của khắp Pháp giới Hư không giới, Hư không Pháp giới trong quá khứ, hiện tại vị lai, từng li từng tí các ngài đều biết, chẳng có gì không biết cả. Từ sự phát triển của khoa học công nghệ hiện nay, chúng ta có thể lãnh hội được, cũng có thể cảm nhận được. Trong kinh nói: 芥子納須彌 “Giới tử nạp Tu Di” (Hạt cải chứa núi Tu Di), trong kinh Đại thừa nói hạt Vi trần, Vi trần đó là Cực vi sắc, trong đó có khắp Pháp giới Hư không giới, tất cả toàn thể vũ trụ chỉ ở trong một Vi trần, Vi trần không lớn, Thế giới không thu nhỏ lại. Vì thế ở trong Tự Tánh: không có lớn nhỏ, không có trước sau, không có lớn nhỏ tức là không có không gian, không có trước sau tức là không có thời gian, thời gian, không gian đều là giả, đều ở đầu sợi lông, đều ở một Vi trần. Đây là khoa học mà Phật pháp nói, Cơ học Lượng tử. Sự phát triển của Cơ học Lượng tử sẽ còn có tiền đồ, bởi vì chưa làm rõ ý niệm là thế nào, hiện tượng tự nhiên là thế nào, nếu làm rõ ràng hai điều này, thì Cơ học Lượng tử đạt đến đỉnh điểm rồi, không còn gì để có thể nghiên cứu nữa. Tiếp nữa là gì? Là Tự Tánh, Tự Tánh thì không thể đạt được bằng phương pháp khoa học, mà phải dựa vào thiền định, thiền định mới có phương pháp: khiến quý vị Minh tâm Kiến tánh, viên mãn trí huệ chân thật. Những gì nhà khoa học tìm được là tri thức, không phải là trí huệ. Tri thức mà quý vị biết, thì quý vị không dùng được, trí huệ thì quý vị có thể dùng, có thể giúp quý vị giải quyết vấn đề. Giải quyết vấn đề bằng tri thức sẽ có tính hạn cục, không rốt ráo, không viên mãn, mà còn để lại di chứng về sau.

Do đó chúng ta mới lãnh hội được, cổ Thánh tiên Hiền nước ta: vì sao không đi theo con đường khoa học? Đó là vì như Đại sư Huệ Năng nói, không phải là trí huệ chân thật. Nếu dùng không được thích đáng, như hiện tại là dùng không được thích đáng, lấy khoa học để chế tạo vũ khí hạt nhân, chế tạo vũ khí hạt nhân sẽ có thể hủy diệt trái đất. Sau khi trái đất bị hủy diệt, thì quý vị đi đến đâu? Quý vị đến Địa ngục Vô Gián, thật sự vĩnh viễn không trở mình nổi, không sao thọ hết nỗi khổ ấy, chẳng phải không có việc gì. Ông Einstein đang ở Địa ngục, ông ấy dựa thân để tiết lộ tin tức cho chúng ta, ông ấy phát minh bom nguyên tử, hiện tại đang ở Địa ngục Hạch Bạo. Tình cảnh trong Địa ngục ấy ra sao? Từng quả bom hạt nhân liên tục phát nổ, mỗi lần phát nổ, thì toàn bộ thân thể, tế bào cơ thể, ngay cả vi khuẩn cũng hóa thành bụi nhỏ, sau đó những mảnh bụi nhỏ đó lại biến thành thân thể, quả bom thứ hai lại phát nổ, khổ không nói nên lời. Ông ấy đến để khuyên nhủ người đời, ngàn vạn lần chớ dùng thứ này để làm vũ khí, dùng thứ này để làm vũ khí, nhân loại sẽ bị hủy diệt, chính mình sẽ phải chịu cảnh Địa ngục Hạch Bạo giống như ông, chịu khổ nạn ấy, thật quá đáng thương. Thời gian hôm nay hết rồi, chúng ta học đến đây thôi.

(Hết tập 247)

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử cùng chúng sanh
Đều sanh nước Cực Lạc
Sớm viên thành Phật quả
Rộng độ khắp chúng sanh.

Nam Mô A Mi Đà Phật.