Tập 110 – Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2014 

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014-2017

(Giảng lần thứ 4)

PHẨM 2: ĐỨC TUÂN PHỔ HIỀN:

Tuân Tu Đức Của Phổ Hiền

Tập 110

Hòa thượng Thích Tịnh Không chủ giảng.

Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Australia.

Thời gian: Ngày 24 tháng 09 năm 2014.

Dịch giả: Chân Hạnh Ánh.

Giảo chánh: Thích Thiện Trang.

          Kính chào chư vị Pháp sư, chư vị đồng học, kính mời ngồi. Mời mọi người cùng tôi quy y Tam Bảo: “A-xà-lê tồn niệm, ngã Đệ tử Diệu Âm, thỉ tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật-Đà, lưỡng túc trung tôn, quy y Đạt-Ma, ly dục trung tôn, quy y Tăng-Già, chư chúng trung tôn” (3 lần).

          Mời xem Đại Kinh Khoa Chú: trang thứ 339, trang 339, chúng ta bắt đầu xem từ hàng thứ tư từ trái sang, bắt đầu xem từ chữ thứ ba: 上表諸大士契於聖智 “Thượng biểu chư Đại sĩ khế ư Thánh trí” (Phía trước thể hiện các Đại sĩ khế hợp với Thánh trí), những chư Thượng thiện nhân, Pháp thân Đại sĩ: dự hội ấy, các ngài khế hợp sâu vào trí huệ của Như Lai, 得無礙之辯才,善應根機,廣宣妙辯,故曰:得佛辯才。 “đắc vô ngại chi biện tài, thiện ứng căn cơ, quảng tuyên diệu biện, cố viết: đắc Phật biện tài” (được biện tài không ngăn ngại, khéo ứng căn cơ, rộng tuyên diệu biện, nên nói rằng: được biện tài của Phật). Buổi trước chúng ta học đến chỗ này. Hoằng pháp lợi sanh, nhất định phải khiến chúng sanh đạt được trí huệ chân thật, lợi ích chân thật, vậy mới có thể thay Phật thuyết pháp. Thời xưa cần điều kiện thế nào: mới có thể giảng kinh, mới có thể chú sớ? Điều kiện là chắc chắn đắc đại triệt đại ngộ, Tông môn yêu cầu là Minh tâm Kiến Tánh, Giáo hạ yêu cầu Đại khai Viên giải, cho dù là Tịnh Độ tông cũng phải đắc Nhất tâm Bất loạn, mới có thể thay Phật thuyết pháp. Ở thời đại này của chúng ta không còn nữa, không những là thời đại này của tôi không còn nữa, mà thầy tôi nói với tôi, trước thầy một đời vẫn còn, đến đời của chính thầy cũng không còn nữa. Lão Cư sĩ Lý Bỉnh Nam vô cùng khiêm hư, thầy nói với tôi, thầy lên đài giảng kinh thì nương vào đâu? Hoàn toàn dựa vào chú giải của Đại đức xưa. Đó chính là nói chính mình chưa khai ngộ, không có người giảng kinh, bất đắc dĩ mà cầu điều tiếp theo. Lúc ấy tôi không dám học giảng kinh, thầy nói với tôi, các vị không ra giảng kinh, về sau không còn ai giảng kinh nữa. Lời này nói được rất nặng. Chúng ta dựa vào điều gì? Thầy nói chúng ta nương vào chú giải, chỉ cần chú giải không giảng sai, chú giải của người xưa là Văn ngôn văn, đem dịch thành văn Bạch thoại. Đầu tiên chính mình được thọ dụng, có một chút Tiểu ngộ, chỗ ngộ, không phải Đại ngộ, có Tiểu ngộ, thường xuyên có. Có thể lấy Tiểu ngộ ấy ra giảng hay không? Tốt nhất là đừng giảng, bởi vì chính chúng ta ngu si, chưa khai trí huệ, sợ ngộ là sai lầm, lãnh hội sai rồi, trên kinh không phải ý nghĩa ấy, chính chúng ta cho là ý nghĩa ấy, thì phải chịu trách nhiệm nhân quả như cũ, vậy thì không thể không cẩn thận. Lời chú của người xưa thực sự có những điều xem không hiểu, hoặc là rõ ràng nghĩ đến: đoạn kinh văn này nhất định có ý nghĩa rất sâu, nhưng họ chỉ miêu tả sơ nhẹ rồi dẫn qua, đó là nguyên nhân gì? Thầy nói rằng: họ cũng chưa làm rõ ràng, nhưng họ không dùng ý nghĩ của chính mình để giải, vậy thì đúng rồi, tôi viết nhè nhẹ sơ qua, thì không phạm sai lầm. Cũng chính là nói, chúng ta đọc đến chỗ giảng không ra, thì đọc kinh văn tiếp theo, là không sai; Nếu chúng ta giảng, giảng sai rồi, thì phải chịu trách nhiệm. Thầy giảng rõ ràng những nguyên lý nguyên tắc ấy: với chúng tôi rồi, chúng tôi mới dám lên đài.

          Mà lại lúc ban đầu lên đài học kinh, hoàn toàn là học theo thầy. Kinh mà chúng tôi học, trong A Hàm, trong Phương Đẳng: rất nhiều không có chú giải của người xưa, thầy Lý giảng cho chúng tôi nghe, chúng tôi ghi chép lại lời của thầy, rồi giảng lại. Người xưa gọi là lệ thuộc sách vở: hoàn toàn không có kiến giải của chính mình, đó là mới học. Mới học nhất định phải trải qua quá trình như vậy. Vì sao vậy? Bởi học khiêm tốn, học cung kính, học chịu trách nhiệm, học không dám tùy tiện nói bừa. Nhưng ngày nay, ngày nay không làm được rồi, chúng ta yêu cầu học trò như vậy, học trò đều sẽ đi hết, không bằng lòng học với chư vị nữa. Cho nên Phật giáo suy, đời sau không bằng đời trước. Chúng tôi theo thầy, chính là theo Tiên sinh Phương Đông Mỹ, Đại sư Chương Gia, thầy Lý, chúng ta không theo nổi, cách quá xa rồi. Hiện tượng này thể hiện điều gì? Phước của chúng sanh càng ngày càng mỏng, tội nghiệp tạo ra càng ngày càng nghiêm trọng. Chúng ta phải làm thế nào? Chúng ta gặp được Tịnh Độ rồi. Nếu không gặp được Tịnh Độ, thì tu trì cả đời, đời sau có thể được thân người thì khá rồi, giữ được thân người; Nếu tu kém một chút, vậy thì là ba đường, đường ác. Tam đồ ác đạo thực sự không thể đi, vì sao vậy? Bởi nơi ấy rất dễ tiến vào, nhưng rất khó thoát ra. Súc sanh mà có thọ mạng ngắn, chúng ta từng nghe nói đọa đường súc sanh tính theo lần, chư vị chết đi biến thành một con chó, chư vị làm chó phải làm bao nhiêu lần? Phải làm mấy chục lần, phải làm mấy trăm lần, thời gian thì dài rồi. Thọ mạng loài chó là mười mấy năm, mấy chục lần mười mấy năm, 100 lần chính là 1000 năm, chư vị xem phiền phức hay không! Càng là động vật nhỏ, thì số lần càng nhiều, loài kiến muỗi, tính theo số kiếp, đáng sợ biết bao. Cho nên chư vị không biết chân tướng sự thật, thì thực sự tâm sanh tử không tha thiết, hiểu rõ chân tướng sự thật, thì sợ hãi! Thời kì Mạt pháp có thể thoát sanh tử, ra khỏi ba cõi, chỉ có niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ, Pháp môn này nương vào Phật lực. Không có tâm thành kính, không có tâm thanh tịnh, không có tâm cung kính, thì đối với Pháp môn này mà nói: thực sự là pháp khó tin, tuy dễ dàng thành tựu, nhưng không dễ sanh khởi lòng tin. Cho nên ngày nay chúng ta nhìn thấy đoạn này, đắc biện tài của Phật, rộng tuyên nói diệu biện, là không dễ dàng.

          Sách Chân Giải tiến thêm một bước để nói: 若依根本教,但說一字,亦為得佛辯才,傳如來如實言故 “Nhược y Căn bản giáo, đãn thuyết nhất tự, diệc vi đắc Phật biện tài, truyền Như Lai như thật ngôn cố” (Nếu y theo Căn bản giáo, chỉ nói một chữ, cũng là đắc biện tài của Phật, bởi truyền lời thật của Như Lai). Nếu y theo Căn bản giáo, Căn bản giáo là gì? Là rễ của giáo, là gốc của giáo. Phật giáo chia làm ba nhánh, mọi người đều hiểu được, Giới luật, Thiền định, Giáo hạ. Giáo hạ thì chia ra nhiều, Hiền Thủ, Thiên Thai, Tam Luận, Pháp Tướng, Tịnh Độ cũng ở trong Giáo, Mật tông cũng ở trong giáo, tám tông phái của Đại thừa, Tiểu thừa cũng thuộc vào trong Giáo. Vậy rễ là gì? Rễ chỉ có một, ba giáo một nguồn, là do một nguồn lưu xuất ra, là Tự Tánh. Nương vào Căn bản giáo, chính là nương Chân Tâm, nương Bổn Tánh. Chỉ nói một chữ, một chữ ấy: là từ trong Chân Tánh mà lưu xuất ra, cũng là đắc biện tài của Phật. Đức Phật chính là Minh tâm Kiến Tánh, từ trong Tự Tánh mà lưu xuất ra, là thật, không phải giả. Lưu xuất ra một chữ ấy, nói theo nghĩa rộng, thì hết thảy tất cả ngôn luận của đức Phật: đều từ gốc rễ mà lưu xuất ra, thông thường thì giảng trên tổng cương lĩnh, một chữ Phật này, hoặc là một chữ Pháp, Phật Pháp. Lại giảng về Phật đến rốt ráo, gốc rễ của gốc rễ, thì [chữ] Phật này là chỉ điều gì? Chỉ A Di Đà Phật. Giáo đến sau cùng đều quay về Tịnh Độ, bất luận là Pháp môn nào: đến sau cùng đều quay về Tịnh Độ. Đại sư Trí Giả của tông Thiên Thai: lúc viên tịch là dùng: Kinh Thập Lục Quán cầu sanh Tịnh Độ, ngài là Quán tưởng niệm Phật. Bồ-tát Phổ Hiền trên Kinh Hoa Nghiêm: [dùng] Thập đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc, ngoài ra tu Thiền, tu Duy Thức (Pháp tướng Duy Thức): đến sau cùng đều hồi hướng: cầu sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc, người như vậy rất nhiều, chúng ta nhìn thấy trên Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, nhìn thấy trên Vãng Sanh Truyện, nhìn thấy trong Cao Tăng Truyện. Cho nên lão Hòa thượng Hải Hiền nói rằng: A Di Đà Phật là gốc của lão Hòa thượng tôi! Ý nghĩa của câu nói này rất sâu rất sâu, thực sự tìm được gốc rễ rồi. Như vậy chúng ta liền biết, chúng ta khuyên người niệm một câu A Di Đà Phật, là giống với biện tài của Phật. Nếu chúng ta giúp một người: khởi tín tâm thực sự với Tịnh tông, sanh khởi lòng tin, thực sự phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, cả đời chư vị giúp hai người, Bồ-tát Đại Từ nói rằng: thì so với một mình chư vị niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ: công đức đó sẽ lớn; Cả đời chư vị có thể giúp mười mấy người vãng sanh, vậy công đức của chư vị quá lớn; Chư vị có thể giúp 100 người, 200 người, thì chư vị thực sự là Bồ-tát; Chư vị có thể giúp trên vạn người, Bồ-tát Đại Từ nói chư vị chính là A Di Đà Phật, ý nghĩa ấy là nói công đức hóa độ chúng sanh: có thể bình đẳng với A Di Đà Phật. Đó đều là lời cổ vũ chúng ta, lời khích lệ chúng ta, câu nói nào cũng đều là lời thật, đều không phải lời giả. Không những Bồ-tát như vậy, mà phàm phu nói pháp cũng đồng với biện tài của chư Phật, tán dương công đức trí huệ của Phật, khai hóa mười phương chúng sanh hữu duyên mà thôi. Chư Phật thực sự chỉ có một tâm nguyện, hi vọng tất cả chúng sanh sớm một ngày thành Phật, đừng lưu lại ở trong sáu đường mười Pháp giới, trong đó rất dễ dàng mê mất Tự Tánh, mê mất phương hướng. Thực sự có thể giúp chúng sanh thành tựu trong một đời, chính là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.

          Ở thời này của chúng ta, còn có một người quan trọng, mà không nhiều người biết đến, là Lưu Tố Thanh chị của Lưu Tố Vân, tôi từng giới thiệu mấy lần. Bà ra đi thế nào? Biểu pháp mà ra đi. Những năm ấy Lưu Tố Vân: cũng thường xuyên tiếp nhận lời mời giảng kinh thuyết pháp của mọi người, cô chuyên giảng Tịnh Độ, chuyên hoằng Kinh Vô Lượng Thọ. Cô ấy nói với tôi, có một lần cùng với chị của cô ấy: họ ở cùng với mấy người, nói đến chuyện, Thiện bản được Hạ lão hội tập từ năm loại bản dịch gốc, Niệm lão cũng dùng thời gian sáu năm làm Tập chú, chúng ta giúp người ở trong ngoài nước: không ngừng đều ở tuyên giảng, đó là việc tốt, cô nói đáng tiếc không có người: đến làm chứng cho chúng ta, biểu diễn vãng sanh. Chị cô lúc ấy nghe được liền nói với cô, việc đó để chị làm, chị sẽ làm chứng, đã phát tâm ấy. Làm chứng bằng cách nào? Là giống như mẹ của lão Hòa thượng Hải Hiền, 86 tuổi niệm Phật vãng sanh. Trước khi vãng sanh chính mình xuống bếp làm sủi cảo, các con của bà cũng đến rồi, cháu gái cũng đến rồi, cả nhà đều đã đoàn viên. Sau khi mọi người ăn xong, bà ngồi xếp bằng ở trên ghế, nói với mọi người: “Ta đi đây”, thật đi rồi, chính là tự tại như vậy, tự nhiên như vậy. Cư sĩ Lưu Tố Thanh là biểu diễn một chiêu này, đã phát tâm ấy, cầu A Di Đà Phật gia trì, một câu Phật hiệu này không rời miệng, đã niệm một tháng. Trong một tháng ấy cả ngày lẫn đêm: trong tâm chỉ có A Di Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra, không có tạp niệm, không có vọng tưởng. Lưu Tố Vân, là em của bà, dường như ở tám ngày trước khi bà vãng sanh, trước tám ngày nhận được một thông tin. Cô không nhìn thấy người, mà nghe thấy âm thanh, âm thanh đó là một dãy số, 2012, 11, 21, 12, cô ghi chép xuống. Ghi xuống rồi đưa đến cho chị của cô ấy, chị cô xem qua, rồi cười: không nói gì, mà thu lại rồi. Chính là vãng sanh vào ngày đó, ngày 21 tháng 11 năm 2012, 12 giờ trưa, bà đi rồi, không sai một phút giây nào. Ở cùng lúc ấy có không ít đồng tu, bà cũng không tuyên bố với mọi người, mọi người vẫn đang nói chuyện, hết sức hoan hỉ, có cười có nói, thời gian vừa đến, bà nói với mọi người: tôi đi đây. Tôi đi, A Di Đà Phật đến đón tôi, tôi nhìn thấy được, mọi người không nhìn thấy, nhưng chư vị lưu ý, chú ý động tác của tôi, tôi leo lên hoa sen thế nào, ngồi ở trong hoa sen, ngay trong động tác ấy chư vị có thể nhìn thấy được, thật đi rồi. Nói với mọi người: dương thọ của bà vẫn còn mười năm, bà không cần nữa, đã đi trước thời hạn. Đó là đặc biệt làm biểu pháp cho mọi người, niệm Phật vãng sanh là thật. Thời gian bà niệm Phật không dài, chỉ có ba, bốn năm. Em gái Lưu Tố Vân của bà, thời gian cô niệm Phật dài, đã mười mấy năm. Đó là nói với chúng ta, chúng ta thực sự muốn đi, còn thọ mạng cũng không cần nữa, bà có cảm ứng, chúng ta cũng có thể niệm đến trình độ ấy. Đó là thật, không phải giả. Phật Bồ-tát đại từ đại bi, nhất định thỏa mãn nguyện vọng của chúng sanh. Những điều ấy với chúng ta mà nói, đều là công đức vô lượng, vì sao vậy? Bởi nếu chúng ta ở trong lúc cấp nạn, giống như 2012 đã nói trong quá khứ, dự đoán của người Maya về tai nạn lớn của thế giới, sự việc ấy đã qua rồi, vẫn chưa xảy ra. Tiên đoán của người Maya có phải giả không? Rất nhiều người nói không phải giả, chỉ chưa bộc phát, không phải không có, là đã kéo dài, kéo dài đến bao giờ thì không ai biết. Chúng ta không đặt điều đó vào trong tâm, lão Hòa thượng nói được hay, đừng nghĩ đến cảm ứng hiếm lạ, tất cả thuận theo tự nhiên, tâm chính là định, định sanh trí huệ, không sanh phiền não. Ngộ nhỡ tai nạn ấy đột nhiên bộc phát, thì chúng ta có thể học Lưu Tố Thanh, phát nguyện vãng sanh, cầu Phật tiếp dẫn. Bình thường chúng ta có thể thật tin thật nguyện, đến lúc thì thật linh nghiệm, nhất định không có nghi ngờ đối với thế giới Cực Lạc, thì tin thật nguyện thiết hữu dụng.

          Thọ mạng của lão Hòa thượng, chúng ta rất rõ ràng có thể lãnh hội được, đó là do A Di Đà Phật gia trì, không phải thọ mạng của chính ngài. Thọ mạng của chính ngài, chúng ta ước đoán chẳng qua cũng chỉ là: 7-80 tuổi mà thôi. 80 tuổi về sau, thực sự là Phật lực gia trì, đến 112 tuổi. Biểu pháp sau cùng, là Tăng đoàn hòa thuận. Nếu muốn Phật pháp hưng thịnh, Trung Hoa có tám tông phái Đại thừa, hai tông phái Tiểu thừa: triều Tống trở về sau thì không còn nữa, hi vọng khôi phục trở lại, mười tông phái, hai tông Thành Thật, Câu Xá. Thời Mạt pháp của đức Thế Tôn về sau còn 9000 năm, có thể hưng vượng hay không? Tôi tin có thể. Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh, từ tâm tưởng sanh của chúng sanh chúng ta, tâm chúng sanh thiện, thì có thể hưng khởi; Tâm chúng sanh bất thiện, vẫn là cống cao ngã mạn, đố kị chướng ngại, khen mình chê người, thì Phật pháp suy rồi, thậm chí còn diệt vong. Làm những sự việc ấy, thì quả báo ở địa ngục. Phật pháp ở nhân gian không còn nữa, thì họ ở trong địa ngục rất khó ra. Lúc nào thì có thể ra? Khi nào Phật pháp hưng vượng, Chánh pháp trụ ở đời, họ mới có thể ra. Chánh pháp trụ thế tiếp theo: là Bồ-tát Di Lặc hạ sanh, thị hiện thành Phật ở thế giới này, Long Hoa tam hội. Thời gian dài bao lâu? 56 ức 7 ngàn vạn năm, họ ở trong địa ngục thời gian dài như vậy. Đó vẫn là tạo ra trọng tội, trọng tội báng pháp, tu sám hối ở trong địa ngục, đợi đến khi Chánh pháp lại xuất hiện ở thế gian này, thì duyên của họ mới chín muồi. Nếu chư vị tỉ mỉ tư duy, thì quá đáng sợ rồi, vì sao phải tạo nghiệp ấy? Thà bỏ thân mạng, ta cũng không thể hủy báng Chánh pháp, cũng không thể tùy tiện phê bình người xuất gia nào, huống hồ là một Pháp môn, một Pháp môn liên quan đến: chúng sanh hữu duyên với pháp ấy nhiều vô số kể. Cho nên tán dương công đức của Phật huệ, thì phước báo vô biên, không thể tạo tác tội nghiệp. 開化十方有緣 “Khai hóa thập phương hữu duyên” (Khai thị giáo hóa hàng có duyên trong mười phương), vì sao đức Phật nói nhiều Pháp môn như vậy? Đều là phương tiện khéo léo, bởi căn cơ của chúng sanh khác nhau, cho nên mở nhiều Pháp môn như vậy. Chúng ta phải hiểu được: 法門平等,無有高下 “Pháp môn bình đẳng, vô hữu cao hạ” (Pháp môn bình đẳng, không có cao thấp), đã nói trên Kinh Kim Cang. Pháp môn khế hợp căn cơ thì rất dễ dàng được độ. Chỉ có niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ: Pháp môn này có thể khế hợp tất cả căn tánh, phía trên đến Đẳng giác Bồ-tát, chúng ta xem thấy trên kinh, những Đẳng giác Bồ-tát: như ngài Văn Thù Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí, do niệm Phật mà thành tựu. Vãng sanh thế giới Cực Lạc, viên mãn Vô thượng Bồ-đề; Chúng sanh địa ngục trong sáu đường, một niệm mười niệm cũng được vãng sanh. Pháp môn này không thể nghĩ bàn, đã độ tận chúng sanh rồi. Từ Vô Gián địa ngục đến Đẳng giác Bồ-tát, Pháp môn này bình đẳng rộng độ, Tổ sư Đại đức xưa nay xưng là Pháp môn bậc nhất, không phải do tùy tiện nói, mà có căn cứ. Đại sư Ấn Quang là bậc Đại đức: giải hành tương ưng trong đời này của chúng ta, ngài ở Lầu tàng kinh trên núi Phổ Đà 30 năm, không rời khỏi Lầu tàng kinh, thông Tông thông Giáo, Hiển Mật viên dung, nhưng cả đời ngài thị hiện cho chúng ta, chính là một câu A Di Đà Phật niệm đến cùng, chính mình làm tấm gương cho mọi người, trở thành một đời Tổ sư. Chúng ta cũng rất khó được, thấm một chút mép lề. Thầy của tôi là lão Cư sĩ Lý Bỉnh Nam. Tịnh Độ là do học với Đại sư Ấn Quang, Giáo lý của thầy là do học với Cư sĩ Mai Quang Hy, thầy tại thế thường xuyên nhắc đến: không quên ân thầy. 得佛辯才 “Đắc Phật biện tài” (Được biện tài của Phật), chúng ta đã học đến chỗ này.

    『住普賢行』“Trụ Phổ Hiền hạnh” (Trụ hạnh của ngài Phổ Hiền), chú trọng vào chữ “trụ” này. Xem Chú Giải:上文已言 “Thượng văn dĩ ngôn” (Văn trước đã nói), đã nói qua: 諸大士,咸共遵修普賢大士之德,今文云住普賢行,表諸大士咸安住於普賢大士之大行 “Chư Đại sĩ, hàm cộng tuân tu Phổ Hiền Đại sĩ chi đức, kim văn vân trụ Phổ Hiền hạnh, biểu chư Đại sĩ hàm an trụ ư Phổ Hiền Đại sĩ chi đại hạnh” (Các Đại sĩ, đều cùng tuân thủ tu theo đức của Đại sĩ Phổ Hiền, văn đây nói trụ hạnh của ngài Phổ Hiền, thể hiện các Đại sĩ đều cùng an trụ vào đại hạnh của Đại sĩ Phổ Hiền). Đại hạnh là gì? 各各以十大願王導歸極樂 “Các các dĩ Thập Đại Nguyện Vương đạo quy Cực Lạc” (Mỗi ngài đều dùng mười Đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc), mỗi vị Pháp thân Đại sĩ: đều là dùng mười đại nguyện vương của Bồ-tát Phổ Hiền: cầu sanh thế giới Cực Lạc. Cho nên Cư sĩ Bành Tế Thanh thời đầu nhà Thanh nói với chúng ta, Kinh Vô Lượng Thọ: chính là trung bản Hoa Nghiêm, nói cách khác, Kinh Hoa Nghiêm là đại bản Kinh Vô Lượng Thọ, đó là trung bản, còn có tiểu bản, tiểu bản chính là Kinh A Di Đà. Ba bản ấy là một bản, một mà ba, ba mà một, chỉ là giảng nói có tỉ mỉ sơ lược khác nhau. Kinh Di Đà lược nói, nhưng ý nghĩa trong ấy đều là viên mãn, đều là rốt ráo, khai triển tiểu bản Kinh A Di Đà: chính là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, cô đặc Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm: chính là tiểu bản Kinh A Di Đà. Cho nên tôi từng nói qua, nếu chúng ta đem Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Di Đà giảng thấu triệt, giảng rõ ràng, giảng sáng tỏ: chính là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, là nói cặn kẽ; Nếu nói sơ lược Kinh Hoa Nghiêm, thì không có thời gian dài như vậy, nói sơ lược, đó chính là Kinh Vô Lượng Thọ, chính là Kinh A Di Đà.

          Một phương hướng, một mục tiêu, Pháp môn này hoàn toàn kiến lập: trên cơ sở của tín nguyện hạnh. Tín nguyện hạnh là một không phải hai, thật tin sao có thể không phát nguyện? Phát nguyện đâu có đạo lý không niệm Phật? Phật hiệu chắc chắn giống như lão Hòa thượng Hải Hiền. Tôi cũng từng nhiều lần khuyên đồng tu, phải tranh thủ từng phút từng giây, tôi có thời gian một giây thì niệm một câu Phật hiệu: thì không có uổng phí, một giây ấy quên mất câu Phật hiệu, thì luống qua rồi. Hiện nay Khoa học kĩ thuật nói là cầu tranh thủ từng phút giây, chúng ta tranh thủ từng phút giây dùng trên niệm Phật, vì sao vậy? Bởi người xưa có một câu nói rất hay: 但得見彌陀,何愁不開悟。 “Đãn đắc kiến Di Đà, hà sầu bất khai ngộ” (Hễ thấy được Di Đà, lo gì không khai ngộ). Chúng ta chia Tứ hoằng thệ nguyện thành hai bậc, hướng dẫn ta trước mắt là hai câu phía trước, thứ nhất là phát tâm Bồ-đề: 眾生無邊誓願度 “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” đây là phát tâm, 煩惱無盡誓願斷 “Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn” đây là tích lũy công đức. Dùng điều gì? Dùng niệm Phật, từng tiếng niệm Phật, mỗi tiếng Phật hiệu: là vô lượng vô biên vô số vô tận công đức, xứng Tánh mà. Chúng ta có, mỗi người đều có, không hề khác biệt với chư Phật Như Lai, chỉ là chúng ta có phiền não tập khí chướng ngại, nên không thể hiện tiền, dùng một câu A Di Đà Phật này, dần dần tìm trở lại công đức của Tự Tánh. niệm mất Khởi tâm động niệm, Phân biệt Chấp trước, để trong tâm chỉ có A Di Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra, thì nhất định không có Khởi tâm động niệm, không có Phân biệt, không có Chấp trước, thì Tịnh Độ của chúng ta thành tựu rồi. Tịnh Độ là cho phép mang nghiệp vãng sanh, không liên quan đến chưa đoạn phiền não tập khí, chỉ cần câu Phật hiệu này có thể khống chế lại, đè nén lại, để nó không khởi tác dụng, không sanh ra chướng ngại với việc vãng sanh Tịnh Độ của chúng ta, việc đó quan trọng hơn bất kì điều gì, hơn nữa vô cùng nhanh chóng. Tôi thực sự từng nhìn thấy: một người cả đời chưa học Phật, ba ngày sau cùng lúc lâm chung mới nghe đến Phật Pháp, niệm ba ngày ba đêm thì vãng sanh, tướng lành hiếm có, hỏa táng lưu lại xá lợi, làm chứng minh cho mọi người. Tôi gặp được người ấy ở nước Mỹ, là Cư sĩ Châu Quảng Đại ở Maryland. Không thể gọi là Cư sĩ, vì ông chưa từng học Phật, mắc ung thư giai đoạn cuối, ba ngày trước khi ra đi gặp được chúng tôi, họ tìm đến chúng tôi, người nhà của ông, Lúc ấy Hội Phật giáo Washington: mới thành lập một năm. Hội Phật giáo Washington thành lập năm 1983, sự việc ấy xảy ra vào năm 1984, để chúng ta nhìn thấy sanh khởi lòng tin, đó không phải giả.

    《華嚴經》中,僅一普賢如斯倡導 “Hoa Nghiêm Kinh trung, cẩn nhất Phổ Hiền như tư xướng đạo” (Trong Kinh Hoa Nghiêm, chỉ một mình ngài Phổ Hiền đề xướng dẫn dắt như thế). Đây là làm so sánh giữa hai bộ kinh, Hoàng Niệm lão nói với chúng ta, một mình Bồ-tát Phổ Hiền đề xướng khuyên dạy chúng ta. 今經則無量無邊 “Kim Kinh tắc vô lượng vô biên” (Kinh này thì vô lượng vô biên), trong bộ kinh này của chúng ta: có bao nhiêu Pháp thân Đại sĩ: giống như Bồ-tát Phổ Hiền? Vô lượng vô biên, 德如普賢之法身大士,咸來集會,同宏淨宗。 “Đức như Phổ Hiền chi Pháp thân Đại sĩ, hàm lai tập hội, đồng hoằng Tịnh tông” (Pháp thân Đại sĩ có đức như ngài Phổ Hiền, đều đến tập hội, cùng hoằng dương Tịnh tông). Thật tuyệt vời! Quá thù thắng, lấy 16 vị Chánh sĩ làm đại biểu.

          Chúng ta lại xem Kinh văn tiếp theo: 『善能分別眾生語言』“Thiện năng phân biệt chúng sanh ngữ ngôn” (Giỏi có thể phân biệt ngôn ngữ của chúng sanh). Đó là câu nguyên văn trong bản dịch đời Đường. Niệm lão chú rất hay, mỗi câu thậm chí với mỗi chữ: đều có xuất xứ, không phải tùy tiện cho thêm vào, ở trong bản Hội tập được xưng là đệ nhất. Đây là Hạ lão hội tập thành sách hoàn chỉnh là ba năm, về sau dùng thời gian bảy năm, đọc tụng mỗi ngày, xem bên trong có chữ nào sai lầm hay không, hoặc là chính mình viết sai, viết sót mất. Thời gian sửa chữa bảy năm, cũng như là nói: tìm khuyết điểm ở trong Kinh, mãi đến khi thực sự không còn mảy may tì vết nào, thì mới trở thành định bản. Nếu nói về lịch sử hội tập, thì chẳng ai có thể giống như Hạ lão: nghiêm túc trách nhiệm, vô cùng cẩn thận, đây xưng là Kinh bậc nhất của Phật môn. Sứ mệnh là sẽ độ chúng sanh khổ nạn: trong 9000 năm Mạt pháp, đều có thể vãng sanh đến thế giới Cực Lạc, công đức ấy tuyệt vời! Đầu đuôi ngọn nguồn của việc này là được: Pháp sư Hoằng Lâm: ở sau cùng quyển sách Tăng Tán Tăng, trong phần: 幻住問答 “Huyễn trụ vấn đáp” nói rõ kĩ càng tỉ mỉ cho chúng ta sự việc này, chứng minh bộ Kinh này đáng tin, không phải do ngụy tạo, nên cần tiếp nhận. việc lưu thông Kinh này, thì Pháp sư Hoằng Lâm có công đức lớn.

    [Câu] 善能分別眾生語言 “Thiện năng phân biệt chúng sanh ngữ ngôn” (Giỏi có thể phân biệt ngôn ngữ của chúng sanh), là của bản Đường Dịch. [còn] văn bản Ngụy Dịch, do ngài Khang Tăng Khải dịch [là], 入眾言音,開化一切 “nhập chúng sanh âm, khai hóa nhất thiết” (nhập vào các âm thanh của lời nói, khai thị giáo hóa tất cả), đó là nguyên văn bản dịch của ngài Khang Tăng Khải. Ngài lựa chọn bản Đường Dịch: 善能分別眾生語言 “Thiện năng phân biệt chúng sanh ngữ ngôn” (Giỏi có thể phân biệt ngôn ngữ của chúng sanh). 《淨影疏》曰:入謂解也 “Tịnh Ảnh Sớ viết: nhập vị giải dã” (Tịnh Ảnh Sớ nói rằng: nhập là hiểu được). Tịnh Ảnh Sớ, [là] Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ: của Đại sư Huệ Viễn triều Tùy. Năm xưa tôi ở Đài Trung: nghe thầy giảng Kinh Vô Lượng Thọ, chính là nghe bản này, bản dịch của ngài Khang Tăng Khải; Đồng học học tập kinh giáo của chúng tôi, họ dùng bản Nghĩa Sớ, là Tịnh Ảnh Sớ. Ý nghĩa của ‘nhập’ chính là hiểu, 謂解眾生種種言音,用之起說 “Vị giải chúng sanh chủng chủng ngữ âm, dụng chi khởi thuyết” (Là hiểu các loại ngôn âm của chúng sanh, dùng đó để nói). Ngôn ngữ của chúng sanh khác nhau, rất phức tạp. Chúng tôi ở tại thành phố nhỏ này, thành phố nhỏ Toowoomba, thành phố nhỏ này chỉ có 120 ngàn người. Chúng tôi đã ở đó 13 năm, lúc mới đến chỉ có 80 ngàn người, sau 13 năm, hiện nay có 120 ngàn người, đều là từ các phía: mà di dân sang bên này, cho nên ở đây là đa nguyên văn hóa, hơn 80 loại dân tộc, đến từ hơn 80 dân tộc khác nhau, có hơn 100 loại ngôn ngữ, thực sự gọi là đa nguyên văn hóa, mười mấy loại Tôn giáo.

          Hôm nay có người đến thăm, hỏi tôi rằng: vì sao tôi lựa chọn Toowoomba? Tôi liền nói với họ, nơi đây là đại biểu của đa nguyên văn hóa. Trên thế giới nhiều dân tộc như vậy, nhiều ngôn ngữ như vậy, làm sao có thể khiến chúng ta sống trên trái đất: an định hài hòa, không có xung đột, không có chiến tranh, chúng tôi nhất định phải làm một tấm gương: cho mọi người xem. Thì nơi đây rất lý tưởng, nơi đây của chúng ta không phải một dân tộc, mà là hơn 80 dân tộc; Không phải một loại ngôn ngữ, là hơn 100 loại ngôn ngữ; Tín ngưỡng khác nhau, trong đây có Tôn giáo tín ngưỡng hay không, cũng không ít, có Tôn giáo tín ngưỡng, Tín đồ chiếm đa số nhất: là Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, họ đã ở đây thời gian dài, nơi đây vốn là: chính là Đại bản doanh của Cơ Đốc giáo. Khi chúng tôi sang bên này, thì nơi đây không có Phật giáo, Phật giáo chỉ có một nhà chúng tôi. Chúng tôi ở cùng họ vô cùng hòa hợp, 13 năm nay, họ nhận biết chúng tôi, đã khẳng định, đã tiếp nhận chúng tôi. Họ hỏi chúng tôi, sau này tính làm như thế nào? Tôi nói cách làm của chúng tôi: chính là muốn đoàn kết Tôn giáo, biến thành phố nhỏ này trở thành điểm mẫu, [về] văn hóa khác nhau, dân tộc khác nhau, ngôn ngữ khác nhau: có thể chung sống với nhau, tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, quan tâm đến nhau, chiếu cố đến nhau, hợp tác với nhau, giống như anh chị em trong một nhà vậy. Hy vọng thành phố nhỏ này là điển hình cho: Thiên đường hạnh phúc của đời người, vì những thành phố khác, Quốc gia khu vực khác: mà làm tấm gương tốt. Không ai chẳng vui mừng, đây là mục tiêu chung của chúng ta. Giống như, chúng ta cùng chung nỗ lực. Làm sao bảo đảm chúng ta có thể chắc chắn? Tôi liền nói với họ, đây chính là giáo dục của Tôn giáo, Tôn giáo bình đẳng, bình đẳng đối đãi, chung sống hài hòa, chúng ta phải thường xuyên tiếp xúc. Cho nên tôi đã ba năm chưa về, lần này trở về, tất cả những quan chức chính quyền, lãnh tụ Tôn giáo, người có địa vị có ảnh hưởng trong xã hội, trong thành phố nhỏ này: đều đã đến thăm tôi, là việc tốt, hoàn toàn thừa nhận chúng tôi. Họ đều được tiếp nhận cách nghĩ cách nhìn của tôi, chúng tôi muốn làm một tấm gương tốt.

          Mục tiêu chung cuộc, mục tiêu cuối cùng, chúng tôi hy vọng có thể xây dựng một Đại học Tôn giáo, mỗi Tôn giáo là một Học viện, mười mấy Tôn giáo là mười mấy Học viện: hợp thành một Đại học. Tương lai người tín ngưỡng Tôn giáo chúng ta: đều là người một nhà, đều là của Đại học Tôn giáo ấy, chỉ là học tập khoa hệ khác nhau, tôi học Phật ở đây, chư vị học Thánh Kinh ở nơi kia, họ học Kinh Coran ở bên đó, thì chỉ có khác nhau điều ấy. Nhưng nội dung mà chúng tôi: học tập được ở trong kinh điển: nhất định là tương đồng, nhập môn, giữ điều khác biệt tìm điểm chung. Trên kinh điển nói điều gì? Ví như Ngũ giới Thập thiện, trên mỗi kinh điển đều nói đến, đó là điểm chung, đó không phải là một giáo thuyết nào, mà kinh điển của mỗi một giáo hết thảy đều có; Hiếu thuận cha mẹ, tôn kính sư trưởng, cũng là điều mà giáo nào cũng có. Chư vị tìm ra những điều ấy trong kinh điển, cùng nhau học tập, như vậy thì hiểu lầm: giữa các Tôn giáo với nhau liền hóa giải: không có hiểu lầm, không có mâu thuẫn, thì Tôn giáo là người một nhà. Vì sao vậy? Bởi chúng ta dùng bốn chữ: hiển thị ra giá trị quan cốt lõi của Tôn giáo, giá trị cốt lõi của giáo dục Tôn giáo mà chúng ta nói là: 仁慈博愛 “Nhân từ Bác ái”, không một Tôn giáo nào không giảng, hơn nữa còn giảng nhiều nhất, đó là gốc rễ lớn trong giáo dục Tôn giáo. ‘Nhân’, là có ta có người khác, suy mình đến người, điều mình không thích, chớ làm cho người, đó là chân lý, đều có trên kinh điển của mỗi giáo, không thể làm trái. Không nhiều chỗ khác nhau, điểm giống nhau chiếm đại đa số, cho nên Tôn giáo có thể đoàn kết.

          Giữa các Tôn giáo với nhau đều có thể hài hòa, vậy tại sao tông phái của chính Phật giáo lại bất hòa? Nguyên nhân bất hòa đều là phiền não tập khí, đều quên hết cả Tam học mà Phật đã truyền, không còn Giới nữa, không còn Thiền nữa, Giáo cũng không còn luôn. Như vậy thì còn lại điều gì? Còn danh lợi, danh văn lợi dưỡng, mọi người chỉ chú trọng tranh danh đoạt lợi, thì Phật giáo sẽ biến mất. Từ biểu pháp của lão Hòa thượng Hải Hiền, chúng ta lãnh hội được: sự từ bi của đức Thích Ca, đức Di Đà, các Ngài nhìn rõ ràng, khiến lão Hòa thượng Hải Hiền kéo dài thọ mạng để biểu pháp, hiển dương đại pháp có thể thực sự cứu vãn Phật [giáo] trong ngày nay: chính là tán thán lẫn nhau, không được phê bình, không được hủy báng, những chỗ khác nhau: cần phương tiện khéo léo để giảng viên dung, khiến mọi người không sanh nghi ngờ. Chúng ta giảng kinh dạy học, khiến mọi người sanh khởi nghi ngờ, thì chúng ta có tội lỗi, chẳng bằng không nói. Có bao nhiêu người hỏi: cảnh giới niệm Phật của Hòa thượng Hải Hiền, ngài cười mà không đáp, cao minh. Vì sao vậy? Bởi lý rất sâu thì người bình thường rất khó lãnh hội, nên đức Phật không giảng.

          Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khai ngộ, bộ kinh được giảng đầu tiên là Kinh Hoa Nghiêm, giảng ở trong định, không phải giảng cho người. Đối tượng là ai? 41 [địa] vị Pháp thân Bồ-tát, các ngài có năng lực vào trong định của Phật, tham gia Pháp hội ấy. Lúc bắt đầu từ trong định, rời định rồi, đức Phật ở vườn Lộc Dã giảng A Hàm, không giảng Hoa Nghiêm. Cho nên hiện nay Tiểu thừa không thừa nhận Hoa Nghiêm, cho rằng Hoa Nghiêm là ngụy tạo, không phải do đức Phật nói, mà do Bồ-tát Long Thọ tạo ra. Tranh luận cũng không làm rõ, cảnh giới khác nhau, Tiểu thừa là cảnh giới phàm phu, Hoa Nghiêm là cảnh giới Pháp thân Bồ-tát, thì sao có thể tương đồng? Cho nên giáo học của đức Phật: chư vị xem từ A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa, hội Pháp Hoa ba quy về một thì nhập cảnh giới Hoa Nghiêm. Đức Phật vẫn là muốn chư vị nhập cảnh giới cao nhất, tương đồng với Ngài, nhưng cần thời gian, cần có phương tiện khéo léo, trước mở Tiểu học, Tiểu học, Trung học, Đại học, Cao học, từng bước một dẫn chư vị đi lên. Đức Thế Tôn tại thế biểu pháp cho chúng ta, chúng ta phải hiểu được.

          Cho nên học Giáo bắt đầu từ A Hàm. Chúng tôi học giảng kinh ở Đài Trung, thầy chọn cho chúng tôi đều là Tứ A Hàm, ở trong Tứ A Hàm: đại khái thầy đã chọn có ba mươi mấy bộ, phù hợp với xã hội trước mắt của chúng ta có thể dùng được, chỉ dạy chúng tôi, dần dần nâng cao đến Phương Đẳng, đến Bát Nhã. Sau cùng chúng tôi thỉnh thầy giảng Kinh Hoa Nghiêm, lúc ấy thầy đã gần 80 tuổi, hơn 70 gần 80. Tôi nhớ rằng tám người đồng học chúng tôi thay mặt đại chúng: thỉnh pháp với thầy, thỉnh thầy giảng Hoa Nghiêm. Tôi cũng là một thành phần ngay trong tám người ấy, thầy dùng Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao, bộ sách ấy cũng là của tôi, 40 quyển sách buộc chỉ, tôi cúng dường thầy. Chúng tôi thỉnh thầy giảng bộ kinh ấy: dụng ý là gì? Dụng ý là hy vọng thầy thường trụ thế gian, chưa giảng xong kinh, thì đều không thể vãng sanh. Không ngờ thầy giảng hơn một nửa, vẫn là đi rồi. Ban đầu thương lượng xong với chúng tôi, giảng viên mãn Hoa Nghiêm, lại giảng bộ Kinh A Di Đà. Thầy vãng sanh rồi, tại sao thầy: không theo lời hứa của chính mình: mà ra đi sớm trước? Đáng để chúng ta phản tỉnh sâu sắc, bởi chúng ta chưa thể thực sự y giáo tu hành, người nghe kinh thì nhiều, nhưng người thực sự tu hành rất ít.

          Ở Đài Trung tôi đại diện lễ thỉnh giảng kinh, đều là một lần, thầy liền đáp ứng ngay, bao gồm Hoa Nghiêm. Duy chỉ có tôi thỉnh thầy giảng Lễ Ký, tôi đã thỉnh mấy lần? Trước sau bảy lần. Thầy cũng phiền rồi, thầy liền nói với tôi: vì sao tôi không đồng ý với trò, trò biết không? Tôi nói không biết. Bởi không ai noi theo làm! Lễ của Nho gia thì giống với Giới của Phật giáo, thầy Lý cả đời không khuyên người thọ Giới, thầy khuyên người Quy y, [còn] Ngũ giới nhất định phải chính chư vị phát tâm cầu, không khuyên người thọ Giới. Thực sự phát tâm, thầy sẽ khích lệ chư vị, Lễ cũng như vậy. Cho nên lúc ấy tôi thưa thỉnh, thầy giảng sách Khúc Lễ cho chúng tôi, trước sau hai thiên, giảng viên mãn rồi. Ngoài ra dường như còn giảng hai thiên nữa, tổng cộng đã giảng ba thiên. Kinh Lễ là phải thực hiện ở trong đời sống, không thể thực hiện ở trong đời sống, thì giảng có tác dụng gì? Giống như Giới luật vậy. Tam quy Ngũ giới Thập thiện là gốc rễ Đại giới, Tam tụ Tịnh giới đều là từ trong Đại giới: mà mở rộng ra. Người niệm Phật lại đem Tam quy Ngũ giới Thập thiện: dung nhập vào một câu Phật hiệu, thật niệm Phật. Thật niệm Phật, trong tâm chỉ có một câu A Di Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra thì chẳng có thứ gì, đương nhiên đầy đủ viên mãn Tam quy, Giác Chánh Tịnh; Đầy đủ viên mãn không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, tụ hội về Thập thiện, không nói lưỡi đôi chiều, không ác khẩu, không ỷ ngữ, không tham, không sân, không si, đầy đủ viên mãn.

          Tổ sư Đại đức xưa nay, Đại sư Ngẫu Ích thực sự từng phát tâm, muốn phục hưng Giới luật trở lại, nhìn thấy người xuất gia không giữ giới, ngài rất đau lòng. Đến sau 50 tuổi, sâu sắc cảm thấy tâm có thừa mà sức không đủ, mới chuyên tâm Tịnh Độ, chuyên cầu vãng sanh. Chính ngài ý thức được, thực sự muốn độ chúng sanh, thì trước độ chính mình. Trước độ chính mình chính là: đến thế giới Cực Lạc thành Phật trước, sau đó quay ngược thuyền từ, chư vị mới có năng lực. Năng lực ấy đơn giản mà nói: chính là thế giới phồn hoa này: không có mảy may ảnh hưởng nào đến chư vị, chư vị sẽ không bị quấy nhiễu, chư vị sẽ không bị ô nhiễm, thực sự đầy đủ Giới Định Huệ. Mắt nhập định ngay trong sắc trần, không phải rời khỏi, [mà] căn nhập định ở trong trần. Nhập định thế nào? Không sanh nhãn thức, vậy lợi hại! Căn tai nhập định trong thanh trần, mũi nhập định trong hương trần, lưỡi nhập định trong vị trần. Nhập định đó chính là: không khởi tâm, không động niệm, không Phân biệt, không Chấp trước, đó là Tánh đức, Tánh đức viên mãn. Khởi tác dụng thì sao? Không một điều gì không biết, vô cùng rõ ràng, vô cùng sáng tỏ, không khởi tâm động niệm. Rõ ràng sáng tỏ là trí huệ, trí huệ Bát-nhã vốn có trong Tự Tánh hiện tiền, đó là Pháp thân Đại sĩ. A-la-hán chỉ có thể làm đến không chấp trước, ngài có khởi tâm động niệm, ngài có phân biệt, nhưng ngài không chấp trước. Vì sao có thể không chấp trước? Bởi biết Thật tướng các pháp. Thật tướng là gì? Những gì có tướng đều là hư vọng, tất cả pháp hữu vi như mộng ảo bọt bóng, vô cùng rõ ràng, vô cùng sáng tỏ, thì tu điều ấy, không phải rời xa sáu trần. Rời xa sáu trần thì đến đâu tu? Căn trần thức là một mà ba, ba mà một, là một sự việc. Pháp thân Đại sĩ: sáu căn ở cảnh giới sáu trần hoàn toàn chuyển trở lại, chuyển Tám thức thành Bốn trí, chuyển A-lại-da thành Đại Viên Cảnh trí, chuyển Mạt-na thành Bình Đẳng Tánh trí, chuyển Ý thức thứ sáu thành Diệu Quan Sát trí, chuyển năm thức trước thành Thành Sở Tác trí, Thành Sở Tác trí chính là: thành tựu sự nghiệp rộng độ chúng sanh, đó là quay về căn bản. Cho nên có năng lực ấy: 解眾生種種言音 “Giải chúng sanh chủng chủng ngôn âm” (Giải các loại ngôn âm của chúng sanh), vì chúng sanh mà nói pháp.

          《會疏》引《密跡經》云:此三千大千世界有八十四億百千垓眾生之類 “Hội Sớ dẫn Mật Tích Kinh vân: thử Tam thiên Đại thiên thế giới hữu bát thập tứ ức bá thiên cai chúng sanh chi loại” (Hội Sớ trích dẫn Kinh Mật Tích nói rằng: Tam thiên đại thiên thế giới này có 84 ức trăm ngàn cai loại chúng sanh). Chữ “cai” này: là đơn vị số lượng của Trung Hoa thời xưa, bao nhiêu xưng là một ‘cai’? Sách cổ ghi chép mười triệu là một kinh, mười kinh là một cai, đó chính là 100 triệu, 100 triệu gọi là một cai, lấy đó làm đơn vị, 100 triệu là đơn vị. 84 ức trăm ngàn nhân với 100 triệu, đó là nói khu vực giáo hóa của đức Phật Thích Ca Mâu Ni: là Tam thiên đại thiên thế giới, những chúng sanh ấy: 言辭各異。計是一切皆歸一義至真之惠 “Ngôn từ các dị. Kế thị nhất thiết giai quy nhất nghĩa chí chân chi huệ” (Ngôn từ mỗi loại khác nhau. Xét là tất cả đều quy về một nghĩa ơn huệ chí chân), chữ ‘kế’ ở đây là tính toán phân biệt, tất cả ở trên đây đều chỉ: 84 ức trăm ngàn cai loại chúng sanh, đều quy về một, một đó chính là Tự Tánh, chính là Chân Tâm, huệ chân thật đến tột cùng, huệ là ân huệ. 菩薩應殊唱異言,說法開化 “Bồ-tát ứng thù xướng dị ngôn, thuyết pháp khai hóa” (Bồ-tát ứng theo ngôn ngữ khác biệt, mà nói pháp khai thị giáo hóa). Với Bồ-tát, chúng sanh có cảm thì Bồ-tát có ứng, Bồ-tát Minh tâm Kiến Tánh, kiến Tánh chính là chứng đắc: Tánh đức rốt ráo viên mãn trong Tự Tánh, thực sự là không gì chẳng biết, không gì không thể. Không gì chẳng biết, không gì không thể, trong Tôn giáo thường dùng hai câu nói ấy, là tán thán đối với Thần. Người thông thường không tin, vì sao vậy? Bởi không thể, vũ trụ lớn như vậy, làm sao chư vị biết được. Họ không hiểu được, trong kinh Đại thừa: phương pháp đó chính là dạy chư vị Minh tâm Kiến Tánh, Kiến tánh, thì thấy được cội nguồn của vũ trụ, gốc rễ của vũ trụ, đã thấy gốc rễ rồi, thì cành lá đều thâu, không một điều gì chẳng biết. Ngày nay chúng ta đang tìm cầu trên cành lá, chưa tìm được gốc rễ. Gốc rễ là Tánh đức, gốc rễ là giống nhau. Cho nên Kinh Hoa Nghiêm mới nói: 一切眾生皆有如來智慧德相,但以妄想執著而不能證得 “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Như Lai trí huệ đức tướng, đãn dĩ Vọng tưởng Chấp trước nhi bất năng chứng đắc” (Tất cả chúng sanh đều có trí huệ đức tướng của Như Lai, nhưng chỉ do Vọng tưởng Chấp trước mà không thể chứng đắc), nói được rất rõ ràng. Vọng tưởng chính là khởi tâm động niệm, nó quá vi tế, chúng ta căn bản không phát hiện được. Tần suất khởi tâm động niệm, Bồ-tát Di Lặc nói với chúng ta, là sanh diệt 2 triệu 100 ngàn tỷ lần trong một giây, vi tế như vậy. Ngày nay chúng ta xem ti-vi, sanh diệt của hình ảnh trên màn hình ti-vi: là 100 lần trong một giây, chúng ta đã không có chút cảm giác nào với việc ấy, huống hồ là 2 triệu 100 ngàn tỷ lần trong một giây? 100 lần một giây thì chúng ta bị mê rồi.

          Phật pháp hoàn toàn dùng tâm để cảm, thuộc về tâm pháp, tâm pháp nhất định không thể nghi ngờ, có nghi ngờ thì mê rồi. Nghi ngờ là gốc rễ của ngu si, tham sân si, gốc của si chính là nghi. Si đến từ đâu? Từ nghi mà đến. Người nào có lòng tin với chính mình? Đó là điều kiện đầu tiên, tự tin. Chính mình có lòng tin với chính mình, thì đương nhiên sẽ có lòng tin với người khác, lòng tin phải xây dựng từ tự tin, đó mới là thực sự. Vậy thì quá khó quá khó rồi. Lúc tôi còn trẻ, 33 tuổi xuất gia, tôi xuất gia liền dạy học, liền giảng kinh, hai năm sau mới thọ giới, ở Bát Đổ, tôi đồng [Đàn] giới với thầy Thánh Nghiêm. Sau khi thọ giới, lần đầu tiên trở về Đài Trung thăm thầy. Thầy ở trong Thư viện Từ Quang, tôi ở cửa lớn, vừa nhìn thấy, thầy liền chỉ tay vào tôi, thầy nói: thầy, thầy phải tin Phật! Đã nói rất nhiều lần. Lúc ấy tôi cũng mê hoặc rồi, tôi đi vào bên trong, thầy bảo tôi ngồi xuống, thì tôi ngồi xuống. Thầy liền hỏi tôi, thầy có nghe hiểu lời nói của tôi hay không? Tôi nói chưa nghe hiểu. Tôi nói tại sao con lại không tin Phật? Học Phật bảy năm, xuất gia, giảng kinh, hiện nay thọ xong giới, lẽ nào con không tin Phật sao? Thầy liền nói với tôi, có rất nhiều lão Hòa thượng 80, 90, đến chết họ cũng vẫn chưa tin. Tôi liền hiểu rõ lời ấy rồi, tin ấy chính là gì? Là chân tín mà Tịnh tông giảng, chân tín quá khó rồi. Những câu ấy của thầy: cả đời tôi cũng sẽ không quên mất, chỉ vào tôi đã nói rất nhiều lần, thầy phải tin Phật, thầy phải tin Phật.

          Đặc biệt là Tịnh Độ tông, ngày nay lòng tin của chúng ta đối với Tịnh Độ tông: vô cùng yếu mỏng, không chịu nổi khảo nghiệm, có một chút gió thổi động cỏ: thì tâm của chúng ta đã dao động. Mười mấy năm nay, sự phê bình đối với bản hội tập ở trong nước và nước ngoài: là không có tiền lệ trong lịch sử, quá khứ chưa từng phát sanh, biết bao nhiêu người, trong thời gian dài như vậy: phủ định bản này. May mà Quốc gia vẫn có phước, trong Phật môn phủ định, nhưng Quốc gia không phủ định. Chúng tôi nhìn thấy Cục Tôn giáo của Quốc gia: đã xuất bản bộ Tịnh Độ Ngũ Kinh, Kinh Vô Lượng Thọ trong đó: là dùng bản hội tập, tôi nhìn thấy thì rất an ủi, Quốc gia thừa nhận bản ấy. Thầy Hoằng Lâm đến giải thích, lão Hòa thượng Hải Hiền đến chứng minh, vậy mọi người mới không nói nữa. Năm ấy có rất nhiều người hỏi tôi, vì sao tôi không đổi bản khác? Tôi nói bản này là do thầy trao cho tôi, nếu tôi đổi bản khác, thì tôi trái thầy phản đạo. Tôi nói người toàn thế giới không tin, tôi cũng sẽ không thay đổi lòng tin của tôi. Vì sao thầy trao cho tôi, mà thầy không trao cho người khác? Bởi chúng tôi có kế thừa lưu truyền, còn có sứ mệnh hoằng dương, đó là một dạng khảo nghiệm, chịu nổi được khảo nghiệm mới được. Không chịu được khảo nghiệm, chư vị chuyển hướng, chư vị đã đánh mất, vậy thì sai rồi. Tôi có lòng tin đối với thầy.

          Tôi đối với, đặc biệt là tuổi già, tôi gặp được lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ, ngài sống ở Bắc Kinh, ngài không tiện ra ngoài, mỗi năm tôi sẽ đến Bắc Kinh: đến ba lần, bốn lần, đến để làm gì? Để thăm ngài. Cho nên lúc ấy thường đi, thân cận với ngài. Ngài ấy tuy là người tại gia, Bồ-tát tại gia, nhưng ngài là Kim Cang Thượng sư của Mật tông. Những Đại đức hiện nay đều đã ra đi, đến ngài Hải Hiền cũng đi rồi, cho nên hiện nay tôi cầu Phật Bồ-tát, hy vọng Pháp sư Hoằng Lâm thường trụ thế gian, Pháp sư vẫn trẻ tuổi, thầy không thể đi, Phật muốn giữ ngài làm biểu pháp. Sau khi Chủ tịch Tập nắm chính quyền: chúng ta nhìn thấy việc làm của ông, thì có hy vọng phục hưng văn hóa truyền thống, Tôn giáo cũng sẽ có một ngày chấn hưng trở lại, chỉ cần chúng ta nghiêm túc y giáo phụng hành. Lần học tập này của chúng ta: khác với mấy lần trước, chúng ta chú trọng ở vận dụng, làm sao để vận dụng kinh giáo vào ngay trong đời sống. Không phải chỉ niệm, hiểu được ý thì được rồi, mà chúng ta phải cầu vận dụng, khích lệ lẫn nhau, cho nên rất có thọ dụng, mọi người đều hoan hỷ với phương thức này.

          Trong Kinh Mật Tích, phía sau còn có hai câu, 菩薩應殊唱異言,說法開化 “Bồ-tát ứng thù xướng nhi dị ngôn, thuyết pháp khai hóa” (Bồ-tát ứng theo ngôn ngữ khác biệt, mà nói pháp khai thị giáo hóa). Bồ-tát học Phật, đức Thế Tôn năm xưa tại thế, gọi là: 佛以一音而說法,眾生隨類各得解 “Phật dĩ nhất âm nhi thuyết pháp, chúng sanh tùy loại các đắc giải” (Phật dùng một âm mà thuyết pháp, chúng sanh theo loại đều hiểu được), không có năng lực ấy thì không thể giáo hóa chúng sanh. Trên Kinh Mật Tích lại nói: 此菩薩能入種種言音,能說法開化。 “Thử Bồ-tát năng nhập chủng chủng ngôn âm, năng thuyết pháp khai hóa” (Bồ-tát ấy nhập được vào các loại ngôn âm, nên có thể thuyết pháp khai thị giáo hóa). Cho nên ngôn ngữ, đó đều là sau khi kiến Tánh: mới có năng lực ấy, không thấy Tánh thì không có năng lực ấy, dựa vào học tập thì có mức khó khăn nhất định, phải học ngôn ngữ từ nhỏ, ở tại dạng thành phố giống như Toowoomba, rất nhiều loại ngôn ngữ, tiếng địa phương, trẻ nhỏ học rất dễ dàng, học được cũng rất nhanh, trẻ nhỏ thông minh: có thể học được mười mấy loại ngôn ngữ khác nhau. Nếu phải thay đổi nơi cư trú, thời gian dài không dùng, thì rất dễ quên mất, đó là kinh nghiệm ngay trong cuộc sống thông thường của chúng ta: đều có thể thấy được.

    又《稱讚大乘功德經》云 “Hựu Xưng Tán Đại Thừa Công Đức Kinh vân” (Và trong Kinh Xưng Tán Đại Thừa Công Đức có nói), những nơi ấy đều có thể nhìn thấy: Niệm lão trích dẫn kinh điển để giải thích kinh văn, khiến mọi người sanh lòng tin, không phải do ngài tùy tiện nói. Kinh là do hội tập, Chú Giải cũng là do hội tập, tổng cộng ngài lựa chọn 83 loại kinh luận, 110 loại chú sớ của Tổ sư Đại đức, để chú bộ Kinh này. Chính là hợp chú giải lại, mỗi câu mỗi chữ đều có nguồn gốc, vô cùng khó có, có thể giữ tín nhiệm với người thiên hạ, đó là trí huệ của Niệm lão. Tôi đến nhà ngài để thăm ngài, gian phòng rất nhỏ, một chiếc giường, một chiếc bàn, chiếc bàn đại khái chỉ lớn: như chiếc bàn ở đây của chúng ta. Bên cạnh chiếc bàn là một chồng sách, chính là những chú giải mà ngài tham khảo. Tôi nhìn thấy rất nhiều bản, còn có những bản đến từ Hàn Quốc, từ Nhật Bản, tôi hỏi ngài, các bản đó của ngài từ đâu mà tìm được? Chúng tôi muốn tìm đều không tìm được. Là cảm ứng, Phật Bồ-tát cảm ứng, có người tặng cho ngài. Tặng cho ngài, ngài thực sự xem, không kể đêm ngày, ngài xem bao nhiêu sách. Trong Kinh Xưng Tán Đại Thừa Công Đức nói: 傍生鬼等 “Bàng sanh quỷ đẳng” ([Các loài] bàng sanh quỷ vân vân), bàng sanh là đường súc sanh, ngạ quỷ, 亦聞如來以隨類音而說法 “diệc văn Như Lai dĩ tùy loại âm nhi thuyết pháp” (cũng nghe Như Lai dùng âm thanh theo loài mà nói pháp). Súc sanh có ngôn ngữ của súc sanh, súc sanh cũng hiểu tình người. Lão Hòa thượng Hải Hiền cứu sói, chư vị xem trên đĩa CD của ngài có nói: ngày hôm sau ngài từ trên đường ấy trở về, con sói ở đó đợi ngài, đã dâng mật ong rừng cho ngài, cúng dường lão Hòa thượng. Cho nên lão Hòa thượng nói với các đồng học rằng, chư vị xem, súc sanh đều hiểu được báo ân! Ngày hôm trước ngài đã cứu con sói mẹ, sói mẹ đó sinh được năm sói con. Ngày hôm sau trở về, trở về từ đường ấy, lại gặp được sói già, sói già miệng đã ngậm mật ong rừng: để cúng dường lão Hòa thượng. Súc sanh hiểu tình người, biết báo ân, hiện nay thực sự có rất nhiều người không bằng súc sanh.

    由上眾生無邊,眾生語言亦是多種 “Do thượng chúng sanh vô biên, chúng sanh ngữ ngôn diệc thị đa chủng” (Bởi vì chúng sanh vô biên, nên ngôn ngữ của chúng sanh cũng là nhiều loại), cũng là vô biên. 但法身大士悉能解了 “Đãn Pháp thân Đại sĩ tất năng giải liễu” (Nhưng Pháp thân Đại sĩ đều có thể giải được), câu nói này quan trọng. Pháp thân Đại sĩ chính là Bồ-tát Minh tâm Kiến Tánh, Hoa Nghiêm Viên giáo từ Sơ trụ đến Đẳng giác: đều gọi là Pháp thân Đại sĩ. Cho nên thế giới Hoa Tạng, là Thật Báo Trang Nghiêm độ của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là nơi cư trú: của 41 địa vị Pháp thân Đại sĩ. 41 địa vị ấy chính là: Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa của Viên giáo, là 40 địa vị, thêm vào Đẳng giác, là 41 địa vị, 41 địa vị Pháp thân Đại sĩ ở Thật Báo độ. Những Bồ-tát ở Thật Báo độ, Đại sư Thiên Thai xưng các ngài là Phần chứng Tức Phật, các ngài là thật không phải giả, chỉ là các ngài vẫn chưa chứng đắc viên mãn, ở nơi ấy đợi chứng đắc viên mãn. Sơ trụ Bồ-tát liền tiến vào, đến lúc nào thì viên mãn? Ba A-tăng-kỳ kiếp. Không còn tập khí của vô thỉ vô minh nữa, không còn mảy may nào, thì lúc ấy cũng không thấy Pháp giới Nhất chân nữa, hoàn toàn tương ưng với: điều đã nói trên Kinh Kim Cang, chính là: 凡所有相皆是虛妄 “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Những gì có tướng đều là hư vọng), bao gồm cõi Thật Báo, không nói cõi Thật Báo ở ngoài.

          Không còn cõi Thật Báo nữa, vậy thì cảnh giới nào hiện ra? Thường Tịch Quang hiện tiền, Thường Tịch Quang Tịnh Độ cao nhất, viên mãn nhất trong bốn độ của Tịnh Độ hiện tiền, Bồ-tát hòa nhập vào Thường Tịch Quang rồi. Trong Thường Tịch Quang không có hiện tượng, không có hiện tượng vật chất, cũng không có hiện tượng của ý niệm: (không có hiện tượng tinh thần), cũng không có hiện tượng tự nhiên, Pháp vốn như vậy trên Đại thừa giáo, đó chính là quay về Tự Tánh. Thường Tịch Quang chính là Tự Tánh. Thường, là không sanh không diệt, đó gọi là Thường; Tịch: là thanh tịnh không ô nhiễm, không có mảy may ô nhiễm; Quang: là chiếu khắp Pháp giới. Pháp giới là từ đó mà biến hiện ra. Thường Tịch Quang ở đâu? Không nơi đâu chẳng có, không lúc nào chẳng có, chúng ta đều ở ngay trong Thường Tịch Quang. Thường Tịch Quang là Pháp thân của chính mình, cũng là Pháp thân của chư Phật Như Lai, Pháp thân là một. Mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp thân, đó chính là Thường Tịch Quang. Ở trong Đại thừa giáo, Pháp thân Phật xưng là Tỳ Lô Giá Na. Tỳ Lô Giá Na là tiếng Phạn, dịch thành ý nghĩa của Trung Hoa là ánh sáng chiếu khắp, đó chính là Thường Tịch Quang.

          Pháp thân ở đâu? Không lúc nào chẳng có, không nơi đâu chẳng có. Cho nên đức Di Đà đến tiếp dẫn chúng ta, là đến từ thế giới Cực Lạc, thế giới Cực Lạc cách nơi đây của chúng ta bao xa? Nói với chư vị, không có khoảng cách, là ngay tức khắc. Chướng ngại của chúng ta không còn nữa, thì Phật hiện tiền. Chúng ta có chướng ngại, không phải Phật không hiện ra, [mà] là chúng ta có chướng ngại khiến trở ngại Phật rồi, chướng ngại mất đi thì Phật hiện ra, Thường Tịch Quang liền hiện ra. Thường Tịch Quang là chứng đắc quả vị Pháp thân Phật. Pháp thân Phật hữu hiệu, tác dụng quá lớn, chúng sanh có cảm, Ngài liền có ứng, ứng thì hiện cõi nước, hiện Chánh báo, hiện Y báo. Y báo là từ Chánh báo mà đến, tất cả pháp từ tâm tưởng sanh, tâm tưởng là Chánh báo, Mười Pháp giới Y Chánh trang nghiêm, sáu đường luân hồi thảy đều là Y báo, đều là từ tâm mà tưởng sanh. Cho nên trong tâm không còn Vọng tưởng nữa, những thứ ấy đều không còn nữa, không thấy nữa, nó không phải thật, nó sanh diệt từng sát-na. Nhất định phải biết chân tướng sự thật ấy, tin sâu không nghi, vì sao vậy? Bởi chúng ta mới có thể thực sự nhìn thấu. Nhìn thấu là đúng, buông xuống là chính xác, trong tâm nghĩ điều này, nghĩ điều kia là sai lầm rồi, không được nghĩ, không có gì đáng để nghĩ. Bao gồm cõi Thật Báo cũng là tạm thời, không phải vĩnh hằng, chỉ có ẩn hiện, không có sanh diệt, khác với Mười Pháp giới chính ở điểm ấy, nơi ấy không có tướng sanh diệt, cho nên thọ mạng của người là vô lượng thọ.

          Vô lượng thọ, là người không thay đổi. Không có sự thay đổi của sanh lão bệnh tử. Hơn nữa thân không phải là được sanh như chúng ta, dần dần sẽ trưởng thành, không phải vậy, các ngài là hóa sanh. Đến cõi Thật Báo liền hiện thân Thật Báo, Thân Thật Báo lớn bao nhiêu? Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói về quán thân Phật, nói rất rõ ràng, Báo thân của A Di Đà Phật, thân có 84 ngàn tướng, không phải 32 tướng, là 84 ngàn tướng; Mỗi tướng có 84 ngàn tùy hình hảo, mỗi tùy hình hảo có 84 ngàn ánh sáng, trong mỗi tia sáng: có vô lượng chư Phật Bồ-tát: ở trong ấy giảng kinh dạy học độ chúng sanh. Từ trong một thân nhìn thấy toàn vũ trụ, không sót một thứ nào, Báo thân của Phật, Báo thân của A Di Đà Phật. Người vãng sanh đến thế giới Cực Lạc, dù cho là Hạ hạ phẩm vãng sanh, Hạ hạ phẩm vãng sanh của Đồng Cư độ, ghi nhớ, trong nguyện thứ 20, nguyện thứ 20 trong 48 nguyện, người vãng sanh đều là A-duy-việt-trí Bồ-tát. Câu nói này rất tuyệt vời! A-duy-việt-trí là gì? Là tiếng Phạn, dịch thành tiếng nước ta là không thoái chuyển, ba loại không thoái chuyển: Vị bất thoái, Hạnh bất thoái, Niệm bất thoái, đó gọi là A-duy-việt-trí, A-duy-việt-trí chính là Pháp thân Bồ-tát, có bốn độ ba bậc chín phẩm hay không? Có, nhưng ba bậc bốn cõi chín phẩm là bình đẳng, đều là Pháp thân. Pháp thân ấy đến từ đâu? Không phải do chính mình tu, là bổn nguyện oai thần của A Di Đà Phật gia trì, khiến thân tướng của chư vị: hoàn toàn giống như Pháp thân Bồ-tát. Trong cõi nước của tất cả chư Phật mười phương: chưa từng nghe nói qua, duy chỉ thế giới Cực Lạc có, cho nên đức Thế Tôn, và chư Phật khuyên chúng ta vãng sanh thế giới Cực Lạc.

          Những kinh điển này của đức Thế Tôn, đều là đối với: người có đầy đủ thiện căn phước đức nhân duyên với Tịnh Độ, [mà] giảng cho họ nghe. Nếu trong đời quá khứ: không có thiện căn phước đức nhân duyên, thì đức Phật không giảng pháp này cho họ, vì sao vậy? Bởi họ không thể tiếp nhận, họ không tin tưởng. Ngày nay chúng ta đã tiếp nhận, vẫn sẽ dao động, vẫn không tin tưởng, vẫn không chịu thật làm, là nguyên nhân gì? Thiện căn phước đức nhân duyên trong quá khứ của chúng ta có, mà rất cạn, không sâu, độ sâu chưa đủ, cho nên sẽ dao động. Chư vị thử nghĩ, bản Hội tập: nếu không phải đích thân thầy Lý trao cho tôi, chư vị nói tôi có dao động hay không? Không đảm bảo! Do thầy Lý đích thân trao cho tôi, đối với tôi thì có sứ mệnh [nên] cảm. Đồng học không phải chỉ mình tôi, vì sao thầy lại giao cho tôi? Bởi giao cho tôi, thì tôi có thể tuyên dương Kinh, phát dương quang đại Kinh này. Cho nên sau khi thầy vãng sanh, tôi liền đem bản Kinh này in ra 10 ngàn quyển. Mi chú của thầy, chú ở bên trên, rất nhiều đồng học đều không nhìn thấy, đều không biết: thầy có bản này. Chú giải như vậy thì sẽ không thất truyền, có 10 ngàn bản lưu thông, hiện nay cả triệu cũng không ngừng, chí ít cũng có mấy triệu bản: lưu thông ở thế gian, rất nhiều người đọc, rất nhiều người học, là việc tốt! Đó là kỳ vọng tha thiết của thầy.

          Vì sao lúc ấy, không thể giảng lần thứ hai? Cũng chính là có tiếng phản đối, cho nên thầy không hy vọng tìm phiền phức ấy. Tôi cầm lấy bản này, tôi đều có thể xem hiểu điều thầy viết, cho nên tôi liền muốn noi theo bản này để giảng, thầy nói không được, tuổi con quá trẻ, nếu chướng ngại ấy bùng lên, thì con chống đỡ không nổi, bảo tôi giữ lại, đợi đến duyên chín muồi. [Lúc] thầy viên tịch, tôi ở nước Mỹ, cho nên in 10 ngàn bản, chủ yếu lưu thông ở nước ngoài. Đồng học ở nước ngoài nhìn thấy, không ai chẳng hoan hỷ, tìm tôi giảng, cho nên vào lúc ấy, trước sau mấy năm đã giảng mười lần. Sau 85 tuổi, tôi nhớ rằng, vào tiết Thanh Minh, tôi đã dừng Hoa Nghiêm lại, không giảng nữa, cuối đời chuyên giảng bản hội tập Kinh Vô Lượng Thọ, hơn nữa chuyên giảng Chú Giải của Hoàng Niệm lão. Cuối đời chúng tôi gặp nhau, tôi hiểu rõ ngài rất sâu, ngài cũng có kỳ vọng với tôi, nhất định phải đem bản này, đem Chú Giải này phát dương quang đại. Cho nên tái bản số lượng lớn để lưu thông, chính chúng ta dẫn đầu để học tập.

          Chỉ có một mục tiêu, đời này nhất định cầu sanh Tịnh Độ, thời gian càng sớm càng tốt, không có mảy may lưu luyến nào với thế gian này, chúng ta làm tấm gương cho mọi người xem, thật sự vãng sanh. Chúng ta đi, cũng nên giống như lão Hòa thượng Hải Hiền, không cần trợ niệm, chính mình thật có nắm chắc. Nắm chắc ở đâu? Buông xuống thì đúng. Vì sao không nắm chắc? Bởi chư vị không buông xuống, chư vị vẫn còn lưu luyến với thế gian này, vậy thì thật sự phiền phức, thật không đáng tin. Triệt để buông xuống, pháp còn nên xả, huống hồ chẳng phải pháp. Pháp là tất cả pháp được đức Thế Tôn nói, tôi muốn vãng sanh, thì tôi buông hết xuống, không bị vướng víu, tự tại vãng sanh, đến thế giới Tây Phương Cực Lạc học tiếp. 法門無量誓願學,佛道無上誓願成 “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo Vô thượng thệ nguyện thành”, hai nguyện ấy tôi đặt ở thế giới Cực Lạc. Ở thế gian này, tôi chỉ là: 眾生無邊誓願度,煩惱無盡誓願斷 “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn”, tôi chỉ làm hai điều ấy. Học Pháp môn, thành Phật đạo: thì đến thế giới Cực Lạc, không ở nơi đây. Tôi chia Tứ hoằng Thệ nguyện thành hai đoạn, vậy mới nắm chắc được, mới có thành tựu.

          Tiếp theo, chúng ta tiếp tục đọc phần sau: 法身大士悉能解了,隨其本類言音,而為說法,應機隨緣,普作饒益。惡趣眾生,亦聞如來之隨類音,而得聞法得度 “Pháp thân Đại sĩ tất năng giải liễu, tùy kỳ bổn loại ngôn âm, nhi vị thuyết pháp, ứng cơ tùy duyên, phổ tác nhiêu ích. Ác thú chúng sanh, diệc văn Như Lai chi tùy loại âm, nhi đắc văn pháp đắc độ” (Pháp thân Đại sĩ đều có thể giải được, tùy theo ngôn âm của loài ấy, mà thuyết pháp cho, ứng cơ tùy duyên, rộng làm lợi ích. Chúng sanh đường ác, cũng nghe tùy loại âm của Như Lai, mà được nghe pháp đắc độ). Cho nên chúng ta đối với chúng sanh của U Minh giới, chúng sanh đường trời, chúng sanh đường súc sanh, đều cần hết sức thành khẩn thuyết pháp cho họ, họ hiểu. 此明會中諸大士,皆有如是智慧辯才與功德威力。 “Thử minh hội trung chư Đại sĩ, giai hữu như thị trí huệ biện tài dữ công đức oai lực” (Điều ấy tỏ rõ các Đại sĩ trong hội, đều có trí huệ biện tài cùng công đức oai lực như vậy). Hôm nay thời gian hết rồi, chúng ta học tập đến đây thôi.

(Hết tập 110)

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử cùng chúng sanh

Đều sanh nước Cực Lạc

Sớm viên thành Phật quả

Rộng độ khắp chúng sanh.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Trả lời 0

Your email address will not be published. Required fields are marked *