Responsive Menu
Add more content here...

Tập 140 – Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2014

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014

(Giảng lần thứ 4)

PHẨM THỨ TƯ: PHÁP TẠNG NHÂN ĐỊA

Tập 140

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Thời gian: 01/12/2014

Giảng tại: Hiệp Hội Giáo Dục Phật Đà Hồng Kông

Dịch giả: Sư cô Thích Tâm Thường

Giảo chánh: Thích Thiện Trang.

Kính chào chư vị Pháp sư, quý vị đồng học, mời an tọa. Thỉnh mọi người cùng tôi quy y Tam Bảo:

A-xà-lê tồn niệm, ngã Đệ tử Diệu Âm, thỉ tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật-Đà, lưỡng túc trung tôn, quy y Đạt-Ma, ly dục trung tôn, quy y Tăng-Già, chư chúng trung tôn. (3 lần)

Mời xem Đại Kinh Khoa Chú, trang 382, hàng thứ sáu, từ 六、世間解 “Lục, Thế Gian Giải” (Thứ sáu, Thế Gian Giải), bắt đầu xem từ đây:

Chúng ta xem Chú Giải của Niệm lão, 又譯知世間 “hựu dịch Tri Thế Gian” (còn dịch là Tri Thế Gian), một cách phiên dịch khác dịch là Tri Thế Gian. 『世間解』“Thế Gian Giải”, kết hợp hai cách phiên dịch này lại để xem, thì ý nghĩa rất rõ ràng. Tiếp theo Niệm lão trích dẫn sách Chân Giải, đây là Tổ sư Tịnh tông của Nhật Bản, các ngài nói: 世間者,名為五陰。解者名知。諸佛世尊善知五陰,故名世間解 “Thế Gian giả, danh vi Ngũ ấm. Giải giả danh tri. Chư Phật Thế Tôn thiện tri Ngũ ấm, cố danh Thế Gian Giải” (Thế Gian: gọi là Ngũ ấm. Giải: là sự hiểu biết. Chư Phật Thế Tôn khéo biết Ngũ ấm, nên gọi là Thế Gian Giải). Chư Phật Như Lai quý Ngài hiểu rõ được thấu triệt nhất đối với Ngũ ấm, Ngũ ấm là bí ẩn của thế gian, nhà khoa học cho rằng sự bí ẩn của vũ trụ. Ngũ ấm là gì? Sắc thọ tưởng hành thức, tất cả pháp thế gian không rời khỏi Ngũ ấm, Ngũ ấm là nguyên tố của pháp thế gian. Rốt cuộc đó là gì? Nhà khoa học đã dùng thời gian 400 năm, trong 20 năm gần đây, đã làm rõ ràng về sắc này. Sắc là gì? Vật chất, thọ tưởng hành thức là tâm pháp, tâm lý, sắc pháp là vật lý, hiện nay đã giải quyết vấn đề vật lý này. Vật từ đâu tới? Vật từ ý niệm sanh ra, thọ tưởng hành thức đều là ý niệm. Ý niệm này là tâm pháp, tâm lý, Tâm lý học chuyên nghiên cứu điều này, khoa học hiện nay vẫn chưa có đáp án chính xác, chúng tôi tin rằng: khoa học có thêm 10 năm, 20 năm nữa, rất có thể khám phá được vấn đề này. Đây là bí ẩn của vũ trụ: một là vật lý, hai là tâm lý, còn có một loại hiện tượng tự nhiên, khoa học quy nạp vũ trụ thành ba loại lớn này.

Phật pháp cũng là nói ba loại lớn này, nhưng danh xưng khác nhau, Phật giáo gọi hiện tượng vật chất là Sắc pháp, hiện tượng tâm lý thì gọi là Tâm pháp, Sắc pháp và Tâm pháp. Tam tế tướng của A-lại-da còn có một thứ, Sắc pháp, Tâm pháp từ đâu ra vậy? Từ Nghiệp tướng mà ra. Nghiệp là gì? Nghiệp, dùng khoa học ngày nay để nói, là hiện tượng dao động sóng. Hiện tượng này trong vũ trụ từ đâu mà có? Triết học và Khoa học hiện đại đều đang theo dõi hiện tượng này, ở trong kinh Đại thừa, Phật nói với chúng ta, Nghiệp tướng là từ một niệm không giác mà sanh ra, gọi là Vô minh, nhà Phật nói Vô minh Phiền não chính là chỉ cho điều này. Từ Vô minh Phiền não sanh Chuyển tướng, Chuyển tướng tức là thọ tưởng hành thức, từ thọ tưởng hành thức sanh ra hiện tượng vật chất.

Ai làm được rất rõ ràng, rất sáng tỏ sự việc này? Đức Phật, trên kinh Đại thừa thường nói Bát địa trở lên, Bát địa Bồ-tát, Cửu địa, Thập địa, Đẳng giác, Diệu Giác là năm thứ bậc này. Bát, Cửu, Thập, Đẳng giác: bốn thứ bậc này là thứ bậc cao nhất của Bồ-tát, đi lên nữa là thành Phật rồi, đi lên gọi là Diệu Giác. Chư Phật Thế Tôn đều là chứng được Diệu Giác, nên quý Ngài khéo biết Ngũ ấm, chẳng những biết, mà “biết” lại thêm 善 “thiện” biết, sự biết này của quý Ngài quá xảo diệu, ra ngoài dự đoán của chúng ta. Thiện ở đây chính là: ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, quý Ngài hiểu rõ triệt để, cũng chính là hiểu rõ: nguồn gốc của tất cả pháp thế và xuất thế gian, một niệm bất giác, một niệm bất giác chính là hiện tượng dao động sóng, nhất định phải biết, Tự Tánh là không động, vốn không dao động, khi Lục tổ Đại sư Huệ Năng kiến tánh nói với chúng ta: Chân Tâm không động. Còn Vọng tâm là động, một niệm bất giác là Vọng tâm, Vọng tâm biến hiện ra thế gian; như như bất động đó là xuất thế gian. Thế gian có Hữu tình thế gian, có Vô tình thế gian, trong nhà Phật chúng ta xưng: Lục đạo là thế gian, Thập pháp giới là thế gian, Nhất chân Pháp giới Thật Báo Trang Nghiêm độ là xuất thế gian. Như Lai đều thấu suốt đối với thế và xuất thế gian, nên Tiên sinh Phương Đông Mỹ nói với chúng ta: Phật pháp là Triết học cao nhất của thế gian. Ngày nay chúng ta cũng sáng tỏ rồi, không chỉ là Triết học cao nhất, mà cũng là Khoa học cao nhất, Khoa học rốt ráo viên mãn, đây gọi là Thế Gian Giải.

Tịnh Ảnh Sớ, là Chú Giải của Đại sư Viễn Công thời nhà Tùy, 世間解者,是化他智 “Thế Gian Giải giả, thị hóa tha trí” (Thế Gian Giải: là trí huệ giáo hóa người khác), trí huệ này khởi tác dụng là giáo hóa chúng sanh. 善解世間,名世間解 “Thiện giải thế gian, danh Thế Gian Giải” (Khéo giải thế gian, gọi là Thế Gian Giải), như trong Chân Giải phía trước nói khéo biết Ngũ ấm, ở đây nói khéo giải thế gian, là một ý nghĩa. Hội Sớ cũng nói: 謂世間出世間因果諸法,無不解了,故名世間解“Vị thế gian xuất thế gian nhân quả chư pháp, vô bất giải liễu, cố danh Thế Gian Giải” (nghĩa là [đối với] các pháp nhân quả của thế và xuất thế gian, chẳng gì là không hiểu rõ, nên gọi là Thế Gian Giải). Ý nghĩa này rõ ràng hơn nữa. Chân tướng của thế gian và xuất thế gian rốt cuộc thế nào? Chân tướng của thế gian là chỉ Y Chánh trang nghiêm của Thập pháp giới, còn xuất thế gian là chỉ Thật Báo Trang Nghiêm độ, cuối cùng là một sự việc thế nào, Phật biết, nên Phật là nhà Triết học lớn, nhà Khoa học lớn.

Tiếp theo là Niệm lão tổng kết cho chúng ta, tổng hợp ba cách giải thích trên, 故世間解者,乃化他之聖智 “cố Thế Gian Giải giả, nãi hóa tha chi Thánh trí” (Cho nên Thế Gian Giải: là Thánh trí để giáo hóa người khác), thật sự là đại trí huệ, Khoa học rốt ráo, Triết học rốt ráo, 謂如來如實知世間與出世間種種因果諸法 “vị Như Lai như thật tri thế gian dữ xuất thế gian chủng chủng nhân quả chư pháp” (nghĩa là Như Lai biết tất cả các pháp nhân quả của thế gian và xuất thế gian đúng như thật). Đây gọi là Thế Gian Giải, thông thường chúng ta nói không gì không biết, không gì không thể. Ở đây nhất định chúng ta phải rõ ràng, đây là đức năng vốn có trong Tự Tánh, Minh tâm Kiến tánh liền chứng được. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật nhập định dưới cây Bồ-đề, đã khai ngộ, chứng đắc rồi. Lục tổ Đại sư Huệ Năng ở trong phòng Phương Trượng của Ngũ tổ, nghe giảng Kinh Kim Cang, nghe đến 應無所住而生其心 “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (không nên trụ vào đâu liền sanh tâm ấy), ngài khai ngộ, chứng đắc rồi, tất cả pháp của thế và xuất thế gian đều thông đạt hết. Nói với chúng ta, tất cả chúng sanh vốn là Phật, tất cả chúng sanh đều có trí huệ, đức tướng của Như Lai. Thế Gian Giải ở đây là đức năng, Phật dùng đức hiệu này để giáo hóa chúng sanh trong chín Pháp giới.

Tiếp theo thứ bảy là, 無上士 “Vô Thượng Sĩ”. 士者,人也。人中最勝,名無上士 “Sĩ giả, nhân dã. Nhân trung tối thắng, danh Vô Thượng Sĩ” (Sĩ: là người. Tôn quý nhất trong cõi người, gọi là Vô Thượng Sĩ). Mấy câu nói này, khi Cổ nhân đọc không có vấn đề gì, nhưng người hiện nay đều không hiểu. Sĩ: là người, Sĩ là người thế nào? Thời cổ Trung Hoa chia xã hội chúng ta thành bốn loại lớn, gọi là: Sĩ Nông Công Thương, Sĩ là người đọc sách, dùng lời hiện tại để nói là tầng lớp tri thức, tầng lớp này có địa vị cao nhất trong xã hội, được người tôn trọng. Những người khác, phía dưới Sĩ là nông dân, công nhân, cuối cùng là thương nhân. Nông dân, công nhân đều phải dựa vào sức lao động để sinh sống, thương nhân là buôn bán kiếm lời. Trong đại chúng, đại khái trước đây, người có được của cải chính là thương nhân, nhưng thương nhân được xếp vào cuối cùng, vì sao vậy? Bởi cho rằng họ không làm mà hưởng. Nhưng trong Phật pháp giảng: người ở trong xã hội, họ có đời quá khứ, họ có đời vị lai, công danh phú quý có liên quan đến nhân quả, trong mạng không có, dùng cách gì cũng không đạt được; trong mạng có, đến lúc đó thì tự nhiên tới thôi, ngăn cũng không ngăn được. Phật giáo truyền đến Trung Hoa, đã giải quyết vấn đề này cho chúng ta, nếu không biết chân tướng sự thật này, thì cho rằng giàu sang là dựa vào đầu óc của chính mình, dựa vào kỹ xảo của bản thân có thể đạt được, trong Phật pháp, trong lời dạy của Thánh hiền Trung Hoa đều không công nhận.

Đặc biệt Phật giảng rất rõ ràng, người thế gian mong cầu: giàu sang, của cải, thông minh trí huệ, khỏe mạnh trường thọ, người thế gian cầu điều này cho đến tận ngày nay, người thế gian ngày nay có lẽ chỉ có loại ham muốn này: tôi muốn tiền, tôi muốn thông minh trí huệ, tôi muốn khỏe mạnh trường thọ. Phật nói với chúng ta, ba loại này đều thuộc về quả báo, quả ắt hẳn phải có nhân, nhân là gì? Nhân là bố thí. Trong mạng của họ có của cải, điều này không phải là giả. Người giàu nhất Hồng Kông của chúng ta là Lý Gia Thành, ông có một cố vấn, là thầy tướng số xem phong thủy, đã qua đời mấy năm trước, trước đây thường đến chỗ của tôi đây nghe giảng kinh, là Trần lão. Trần lão nói với tôi, lúc ông Lý Gia Thành 30 tuổi, ông ta là người Triều San, người Triều Châu, đến Hồng Kông làm ăn, kinh doanh, rồi hai người họ gặp nhau. Khi gặp, Trần lão xem tướng, đoán mạng, xem phong thủy, ngài nhìn thấy Lý Gia Thành, liền đoán mạng cho ông ta. Sau đó hỏi ông ta, trong tâm của ông: muốn có bao nhiêu của cải thì ông hài lòng? Lý Gia Thành nói với ngài, tôi có thể có 30 triệu thì tôi hài lòng. Trần lão nói với ông ta, kho của cải trong mạng của ông là tràn đầy, kho của cải bình thường rất tuyệt vời rồi, còn kho của ông là tràn đầy, tương lai ông là người giàu nhất Hồng Kông. Nên Lý Gia Thành cả đời chiếu cố ngài, tương đương với việc là coi ngài như người cố vấn, việc lớn nhỏ đều thỉnh giáo với ngài. Là Trần Lãng, đã qua đời mấy năm trước, hình như ba, bốn năm trước. Trong mạng có, kho của cải trong mạng của ông ta quá nhiều, tràn ngập ra; nói cách khác, bất kể ông ta kinh doanh gì thì đều kiếm ra tiền. Quý vị làm giống như ông ta, có thể quý vị lỗ vốn, còn ông ta kiếm được tiền. 命裡有時終須有,命裡無時莫強求 “Mạng lý hữu thời chung tu hữu, mạng lý vô thời mạc cũng cầu“(Trong mạng có thì rốt phải có, trong mạng không thì chớ cưỡng cầu), không nên miễn cưỡng.

Phật dạy người, nếu quý vị muốn phát tài, quý vị không có tài, hãy bố thí tài, có bao nhiêu thì bố thí bấy nhiêu, càng thí càng nhiều, là thật. Kho của cải trong mạng của tôi trống rỗng, kho của cải của Lý Gia Thành là tràn đầy, trong kho của cải của tôi trống không, không có một đồng nào, cả đời của tôi phải trải qua cuộc sống nghèo khổ. Đại sư Chương Gia dạy tôi nhất định phải tu ba loại bố thí: bố thí tài, bố thí pháp, bố thí Vô úy. Lúc đó tôi không có tiền, cuộc sống cũng rất khó khăn, Đại sư hỏi tôi: con có một hào không? Không vấn đề; con có một đồng không? Con còn có thể ạ. Ngài bèn nói với tôi, con hãy bắt đầu tu bố thí từ một hào một đồng, phải có tâm bố thí, thường giữ tâm bố thí, có bao nhiêu thì bố thí bấy nhiêu. Tôi nghe lời, tôi thật làm theo, quả nhiên không sai, thật sự càng thí càng nhiều. Thầy dạy tôi học đức Thích Ca Mâu Ni Phật, cả đời đức Thích Ca Mâu Ni Phật làm việc dạy học, sau khi khai ngộ liền dạy học. Giáo học là ba loại bố thí đều có, quý vị dùng sức lực của quý vị, dùng tinh thần của quý vị, dùng thời gian của quý vị, đây là bố thí nội tài. Công đức của bố thí nội tài còn thù thắng hơn công đức của bố thí ngoại tài, có thể được ngoại tài, rất thù thắng. Bố thí pháp được thông minh trí huệ, bố thí vô úy được khỏe mạnh trường thọ, thật có hiệu quả.

Thọ mạng của tôi không dài, rất nhiều người xem tướng đoán mạng nói với tôi, không qua được 45 tuổi, tôi tin tưởng, không hoài nghi chút nào. Trước khi chưa học Phật, tôi tin giống như có di truyền, trong gia đình của tôi, tôi nhớ, ông nội của tôi qua đời lúc 45 tuổi, bác của tôi, tức anh trai của cha tôi, lớn hơn cha tôi mười tuổi, cũng là 45 tuổi ra đi, cha của tôi cũng là 45 tuổi. Nên bản thân tôi vào thời điểm đó, đã xuất gia học Phật, xác định tuổi thọ là 45 tuổi, sau 45 tuổi thì không còn nữa. Làm sao đây? Cầu sanh Tịnh Độ, thật sự niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Năm 45 tuổi đó, thì tôi đã giảng kinh 12 năm, tuổi thọ đã được kéo dài. Năm đó bị một trận bệnh, đó là một trận bệnh nghiêm trọng nhất trong đời của tôi, hơn một tháng mới khỏi. Lúc đó tôi chuẩn bị vãng sanh, tôi cũng không tìm Bác sĩ, tôi cũng không uống thuốc. Lúc đó tôi nghĩ, Bác sĩ chỉ có thể chữa bệnh chứ không thể chữa mạng, mạng hết rồi, tìm Bác sĩ làm gì? Vì vậy tôi chỉ là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Khi đó có bốn đồng học chăm sóc tôi: một người của Đại học Đài Loan, một người của Đại học Chính Trị, hai người của Đại học Sư Phạm, họ bỏ ra thời gian thay phiên nhau để chăm sóc tôi, hơn một tháng thì khỏi rồi.

Năm sau, tham gia một Pháp hội, gặp được Lạt-ma Cam Châu. Lạt-ma Cam Châu cũng rất quen thân với tôi, ngài là học trò của Đại sư Chương Gia, là một Thượng sư giỏi của Mật tông, tôi rất bội phục ngài. Ngài nói với tôi, ngài nói Pháp sư Tịnh Không à, chúng tôi đều đang thảo luận, nói sau lưng thầy. Tôi hỏi nói gì về tôi? Nói thầy rất thông minh, giảng kinh rất tốt, thính chúng rất nhiều, điều đáng tiếc là không có phước báo, lại đoản mạng. Tôi nói việc này nói trước mặt cũng được, tôi hoàn toàn công nhận, tôi hiểu rõ, tôi không kiêng kị. Đại sư nói, bây giờ thầy khác rồi. Khác thế nào? Công đức giảng kinh trong 12 năm qua của thầy, giúp thọ mạng của thầy đã được kéo dài, tuổi thọ của thầy rất dài, phước báo của thầy rất lớn. Tất cả đều là công đức của giảng kinh, tôi không nghĩ đến, tôi giảng kinh không cầu trường thọ, cũng không có cầu tiền của, không cầu gì, thứ gì cũng không cầu, là tự nhiên. Trên kinh nói không sai chút nào.

Biểu pháp lần này của lão Hòa thượng Hải Hiền, trong tâm tôi rất rõ ràng, cả đời của tôi đây đều là do A Mi Đà Phật chiếu cố, do A Mi Đà Phật an bài, thuận cảnh nghịch cảnh đều là để thành tựu tôi. Vì vậy tôi đều có thể tiếp nhận mọi thứ, thuận cảnh, không có tham luyến; nghịch cảnh, không có oán hận, đều hoan hỷ; bất kể người nào, đều là Thiện tri thức của tôi, đều là giúp tôi, thành tựu tôi. Chúng tôi không cầu bất cứ điều gì đối với pháp thế gian, điều duy nhất mong cầu chính là ngày ngày cầu nguyện A Mi Đà Phật đến dẫn tôi tới Thế giới Cực Lạc. Tôi không thể so sánh với lão Hòa thượng Hải Hiền, lão Hòa thượng Hải Hiền thấy A Mi Đà Phật ít nhất mười lần trở lên, trong đời này của tôi chỉ có một lần, thật có, không phải là giả. Lần đó là tôi 79 tuổi, năm 79 tuổi. Cho nên thật có Thế giới Cực Lạc, thật có A Mi Đà Phật, thật có Lục đạo luân hồi, đến khi chính quý vị tận mắt chứng kiến, thì quý vị hoàn toàn tin thôi, không hoài nghi nữa. Lúc này phải đề cao cảnh giác, tài sắc danh lợi, Ngũ dục Lục trần của thế gian hiện tại ở trước mặt của quý vị, nếu một khi quý vị động tâm, thì thoái chuyển rồi, vô cùng đáng sợ. Làm sao đây? Một câu A Mi Đà Phật có thể chống lại được, niệm niệm A Mi Đà Phật, thì chúng ta có thể như như bất động. Lại nghĩ tới lời dạy trên kinh, 凡所有相,皆是虛妄“những gì có tướng đều là hư vọng”, đối với cảnh giới hư vọng nhất định không để ý tới, không sanh tâm vui mừng cũng không sanh tâm oán giận, giữ gìn thanh tịnh bình đẳng giác thì đúng rồi. Khi đến lúc thì Phật nhất định đến tiếp dẫn chúng ta, thì tâm an rồi, tâm định rồi, điều này quan trọng hơn tất cả.

Sĩ là người đọc sách, tầng lớp tri thức, người cao nhất trong tầng lớp tri thức gọi là Vô Thượng, đây được xưng là Phật-Đà. Phật-Đà là chí cao Vô Thượng trong tầng lớp tri thức, tôn quý nhất trong cõi người, không ai có thể so sánh với Ngài, nên xưng là Vô Thượng Sĩ. 《涅槃經》曰:如來者,名無上士。譬如人身,頭為最上,非餘肢手足等也。佛亦如是,最為尊上,非法僧也 “Niết Bàn Kinh viết: Như Lai giả, danh Vô Thượng Sĩ. Thí như nhân thân, đầu vi tối thượng, phi dư chi thủ túc đẳng dã. Phật diệc như thị, tối vi tôn thượng, phi Pháp Tăng dã” (Kinh Niết Bàn nói: Như Lai: gọi là Vô Thượng Sĩ. Giống như thân người, đầu là cao nhất, tứ chi tay chân còn lại không bằng được. Phật cũng như vậy, là tối thượng nhất, chứ không phải là Pháp hay Tăng). Tiếp theo đây nói về Tam Bảo, Pháp không bằng Phật, Tăng cũng không bằng Phật, ba ngôi Phật Pháp Tăng thì Phật là tối thượng, lấy ý nghĩa này. 又曰:有所斷者,名有上士。無所斷者,名無上士“Hựu viết: hữu sở đoạn giả, danh Hữu Thượng Sĩ. Vô sở đoạn giả, danh Vô Thượng Sĩ” (Còn nói: có thứ để đoạn, thì gọi là Hữu Thượng Sĩ. Không còn gì để đoạn, gọi là Vô Thượng Sĩ). A-la-hán còn có Trần sa Phiền não, vẫn chưa đoạn Vô minh Phiền não, quý ngài còn phải đoạn, quý ngài có thứ để đoạn. Đức Phật ngay cả Vô thỉ Vô minh Phiền não cũng đoạn sạch sẽ rồi, nên Ngài không có gì để đoạn, vậy được xưng là Vô Thượng Sĩ. Hiện nay chúng ta có đoạn, giống như Kiến tư Phiền não, Trần sa Phiền não, Vô minh Phiền não hiện nay của chúng ta chưa đoạn hết. Một chút công phu hiện nay của chúng ta, chính là dựa vào câu Phật hiệu này, khi Phiền não khởi lên, câu Phật hiệu này có thể phục xuống, khống chế lại, không để phiền não phát tác quá mức, chúng ta chỉ có chút công phu này. Chút công phu này, không thể nào chứng quả, nhưng vãng sanh thì được. Lúc mạng sắp hết, một tiếng cuối cùng là A Mi Đà Phật, không phải là phiền não khởi hiện hành, thì họ có thể vãng sanh, gọi là đới nghiệp vãng sanh. Nguyện thứ 18 trong 48 nguyện, khi mạng sắp hết một niệm hay mười niệm đều có thể được A Mi Đà Phật đến tiếp dẫn, nên Pháp môn này thù thắng không gì bằng.

《會疏》同上二說 “Hội Sớ đồng thượng nhị thuyết” (Hội Sớ giống với hai thuyết trên), hai ý nghĩa này đều giống với phía trên, 疏曰:業惑淨盡,更無所斷,於三界天人凡聖之中,第一最上無等,故號無上士“Sớ viết: nghiệp hoặc tịnh tận, cánh vô sở đoạn, ư Tam giới thiên nhân phàm Thánh chi trung, đệ nhất tối thượng vô đẳng, cố hiệu Vô Thượng Sĩ” (trong Sớ nói: sạch hết nghiệp hoặc, hoàn toàn không có gì để đoạn, là tối thượng vô đẳng bậc nhất trong phàm Thánh trời người của Tam giới, nên hiệu là Vô Thượng Sĩ). Đều bao gồm hai ý nghĩa ấy rồi. Quý vị xem, trong phàm Thánh trời người của Tam giới, phàm là phàm phu (Lục đạo phàm phu), Thánh là Thánh nhân, trong Thánh nhân bao gồm A-la-hán, Bích-chi-phật, Bồ-tát. Trong những bậc ấy, dù là Bồ-tát, vẫn chưa đoạn Vô minh Phiền não, quý ngài vẫn chưa đoạn, khi thành Phật là đoạn sạch sẽ rồi. Nên thành Phật mới là tối thượng vô đẳng bậc nhất.

又《智度論》曰:涅槃法無上。佛自知是涅槃,不從他聞,亦將導眾生令至涅槃 “Hựu Trí Độ Luận viết: Niết-Bàn pháp vô thượng. Phật tự tri thị Niết-Bàn, bất tùng tha văn, diệc tương đạo chúng sanh linh chí Niết-Bàn” (Còn Luận Trí Độ nói: pháp Niết-Bàn Vô thượng. Phật tự biết là Niết-Bàn, không nghe từ người khác, lại có thể dẫn dắt chúng sanh đến Niết-Bàn). Niết-Bàn là tiếng Phạn, phiên dịch vào thời cổ thì dịch là diệt. Diệt gì vậy? Diệt Phiền não. Kiến tư Phiền não, Trần sa Phiền não, Vô minh Phiền não thảy đều diệt hết, đó gọi là Niết-Bàn. Nên là pháp Niết-Bàn Vô thượng. Niết-Bàn của Tiểu thừa gọi là Thiên chân, tức còn có bên trên, Niết-Bàn của Đại thừa là Vô thượng, Đại thừa cần phải: Đại triệt Đại ngộ, Minh tâm Kiến tánh, đó là Niết-Bàn chân thật. Niết-Bàn cũng được dịch là viên tịch, viên là viên mãn, tịch là thanh tịnh tịch diệt, thanh tịnh tịch diệt viên mãn, đây là pháp Vô thượng. Phật tự biết, chứng được cảnh giới này tự mình biết được, đức Thích Ca Mâu Ni Phật biểu diễn cho chúng ta, Tổ sư Đại đức thị hiện cho chúng ta. Câu sau rất quan trọng, không nghe từ người khác, không phải là người khác dạy quý vị, mà là chính quý vị chứng được, tự mình khai ngộ, kỳ nghĩa tự kiến, chữ “kỳ” này đại biểu vạn pháp, chân tướng của tất cả pháp: tự nhiên hiểu rõ, không cần đi hỏi người khác.

Ở Trung Hoa, trong lịch sử Tông môn, Giáo hạ đều có người khế nhập cảnh giới ấy, đa số quý ngài đều phải tìm một vị Thiện tri thức làm chứng cho mình. Như Lục tổ Đại sư Huệ Năng, ngài thật sự biết mình đã nhập vào cảnh giới này, còn phải thỉnh Ngũ tổ làm chứng minh cho ngài, xem có sai sót hay không. Ngũ tổ giảng Kinh Kim Cang cho ngài, Lục tổ không biết chữ, tất nhiên là giảng đại ý, giảng đến “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, ngài hiểu rõ rồi, nói ra năm câu, năm câu ấy để Ngũ tổ ấn chứng cho ngài. Câu thứ nhất, năm câu ấy vô cùng cực kỳ quan trọng, tuy chúng ta chưa kiến tánh, nhưng chúng ta nghe rồi rất có thọ dụng. Câu thứ nhất “hà kỳ Tự Tánh, bổn tự thanh tịnh”, hà kỳ là không ngờ đến, không nghĩ đến Tự Tánh của chúng ta vốn là thanh tịnh. Có ô nhiễm hay không? Không, chưa bao giờ ô nhiễm. Ô nhiễm là Ý thức, Ý thức là Vọng tâm, Vọng tâm có ô nhiễm, Chân Tâm không có ô nhiễm. Học Phật, Phật dạy chúng ta dùng Chân Tâm, không nên dùng Vọng tâm, dùng Vọng tâm thì tạo nghiệp. Vọng tâm có thiện có ác, Chân Tâm không có thiện ác, không có thiện ác mới gọi là chân thiện, gọi là bổn thiện, lão Tổ tông Trung Hoa nói bản tánh bổn thiện, trong Tam Tự Kinh nói人之初,性本善 “nhân chi sơ, tánh bổn thiện”. Bổn thiện ở đây mãi mãi không mất đi, cho dù đọa địa ngục, thì bổn thiện vẫn tồn tại, vẫn không bị mất. Nên Phật nhìn tất cả chúng sanh đều là Phật, nhìn từ đâu? Nhìn từ trên bổn thiện, bản tánh là Phật, nhìn từ Chân Tâm, đừng nên nhìn Vọng tâm của họ, Vọng tâm là giả. Phải tin chính mình vốn là thanh tịnh, chỉ cần chúng ta trừ bỏ ô nhiễm, buông xuống, thì thanh tịnh được khôi phục, liền khởi tác dụng. Khởi tác dụng gì? Sanh trí huệ, không sanh phiền não.

Câu thứ hai nói “bổn bất sanh diệt”, nên nhất định phải biết, Tự Tánh chính là Chân Tâm, là chính mình thật sự, chính mình thật sự là không sanh không diệt. Thân không phải chính mình, thân có sanh diệt. Vậy thứ gì không có sanh diệt? Linh tánh không có sanh diệt, nhưng không phải là linh hồn. Linh hồn gần giống với linh tánh, nhưng khác nhau, linh hồn là mê, linh tánh là giác ngộ, mê đó là pháp sanh diệt, ngộ là không sanh không diệt. Chúng ta phải tự mình làm rõ ràng, làm sáng tỏ, phải ngay trong đời sống thường ngày để cho linh tánh khởi tác dụng, đây là học Phật thật sự.

Câu thứ ba “bổn tự cụ túc”, đừng hướng ra ngoài cầu, không có gì ở bên ngoài, vô lượng trí huệ vốn tự đầy đủ, vô lượng đức năng cũng là vốn tự đầy đủ, vô lượng tướng hảo, giống như Y Chánh trang nghiêm của Thế giới Cực Lạc, tất cả là vốn tự sẵn đủ. Phật dạy bảo chúng ta không hướng ra ngoài tìm, mà hướng vào trong. Dùng cách nào để tìm? Dùng Giới Định Huệ. Trì giới, mục đích là gì? Mục đích là được định, nhất định phải biết. Có một số người trì giới, cảm thấy mình rất tốt, nhìn thấy người khác không trì giới, chê cười người khác, lấy Giới luật để đo lường người khác, đó là tạo nghiệp. Họ có thể được định không? Không thể nào. Tại sao vậy? Bởi tâm của họ đều đang lung lay bên ngoài, làm sao có thể được định chứ? Tác dụng của trì giới hoàn toàn làm sai rồi, ngày ngày lấy Giới luật để phê bình người khác, quý vị nói họ tạo nghiệp nặng biết bao. Người càng trì Giới luật tốt thì tâm càng định, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm từ bi, tràn đầy trí huệ. Lão Hòa thượng Hải Hiền, đó chính là người thật sự trì giới, ngài chỉ có khen ngợi người khác, ngài chưa bao giờ phê bình người khác, chưa từng hủy báng người khác, đó là người thật sự trì giới. Mục đích của định là gì? Mục đích của định chính là khai trí huệ, tức là Đại triệt Đại ngộ. Đến định công mức nào thì khai ngộ? Định là gì? Cách tu thế nào? Sáu căn ở trong cảnh giới sáu trần, không khởi tâm động niệm là định của Như Lai, đại định rốt ráo viên mãn; không phân biệt không chấp trước, là đại định của Bồ-tát; chỉ có không chấp trước, là đại định của A-la-hán. Còn có phân biệt, còn có chấp trước, còn tự khen mình, chê bai người khác, người ấy có trì giới không? Không có. Nếu họ trì giới, thì giới luật đó bị phá hỏng hết rồi, giới từ đâu ra? Người trì giới tâm thanh tịnh, ít ô nhiễm, tuy họ trì giới, nhưng ô nhiễm của họ còn nghiêm trọng hơn người bình thường, vậy làm sai rồi!

Năm xưa, có câu chuyện giữa Luật sư Đạo Tuyên với Đại sư Khuy Cơ, là thật có thể gợi mở cho mọingười. Ngài Đạo Tuyên, Sơ tổ Luật tông vào thời nhà Đường, là Tổ sư khai sơn của Luật tông Nam Sơn, Tổ sư về luật, trì giới tinh nghiêm, cảm động người cõi trời cúng dường. Mỗi ngày ngài chỉ ăn một bữa giữa trưa, đến giữa trưa người cõi trời đưa cơm đến cho ngài, người cõi trời đưa cúng. Đại sư Khuy Cơ là thật sự có đức hạnh, có học vấn, có trí huệ, về biệt hiệu người ta xưng ngài là Pháp sư Tam Xa, dùng lời hiện nay để nói, ngài là con cháu cán bộ cấp cao mà đi xuất gia. Bác của ngài là Uất Trì Kính Đức, là Đại tướng của Đường Thái Tông, giống như Nguyên soái hiện nay, xuất thân quý tộc. Đại sư Huyền Trang bảo ngài xuất gia, nhìn trúng ngài, ngài nói tôi xuất gia, cuộc sống khổ như vậy, buồn tẻ vô vị, tôi không muốn xuất gia. Vậy phải thế nào mới có thể xuất gia? Ngài đã suy nghĩ nửa ngày, tôi đưa ra ba điều kiện, thứ nhất ngài muốn vàng bạc châu báu, tôi muốn mang một xe vàng bạc châu báu; thứ hai ngài muốn mang một xe sách, thích đọc sách; thứ ba là muốn mang một xe gái đẹp, để hầu hạ ngài. Đại sư Huyền Trang đều đáp ứng, đều đồng ý hết, không có cách nào nữa, phải xuất gia rồi. Nên được xưng hiệu là Pháp sư Tam Xa, đây là điều mà người ta đưa ra, và chê cười ngài.

Tình cờ có một ngày [ngài Khuy Cơ] đi ngang qua núi Chung Nam, cách rất gần với đạo tràng của Luật sư Đạo Tuyên, thuận tiện đi vào thăm ngài. Khi Đại sư Khuy Cơ đến, đúng lúc, tuy là rất nổi tiếng, Tổ sư của tông Pháp Tướng, đến trên núi để thăm ngài, muốn Đại sư đến nhìn thấy người trời cúng dường cho tôi, biểu diễn cho Đại sư xem. Lên núi để tiếp đãi, đến giờ ăn trưa, thì người cõi trời không đến. Đại sư Khuy Cơ rời khỏi rồi. Đến trưa ngày hôm sau người cõi trời đưa cúng tới, thì Luật sư Đạo Tuyên hỏi họ, tại sao giữa ngọ hôm qua ông không đến, không đưa cúng tới? Vị ấy nói hôm qua Bồ-tát Đại thừa ở trên núi, khắp núi đều là thần Hộ pháp, tôi không vào được. Pháp sư Đạo Tuyên nghe xong, toát cả mồ hôi, hổ thẹn, tự mình sám hối.

Câu chuyện này là một sự khai thị đối với người học Giới luật, học Giới luật nhất định không được khinh thường người khác. Dù người đó có đức hạnh hay không, cũng không thể xem thường, tại sao vậy? Bởi trì giới phải đoạn hết tính ngạo mạn. Tham sân si mạn nghi, năm loại phiền não này được gọi là năm gốc của địa ngục, nhất định phải đoạn sạch. Làm thế nào biết được có loại ý niệm này? Muốn đi kiểm tra người khác, muốn khoe khoang trước mắt họ: chính mình trì giới tinh nghiêm, muốn để biểu diễn điều này. Đây đều thuộc về cống cao ngã mạn, đều là sai lầm. Người trì giới tâm thanh tịnh bình đẳng, không có ô nhiễm, không có dao động. Chúng ta cúng Phật, cúng Phật thì đồ cúng quan trọng nhất là một ly nước, không có hương hoa, không có đèn cũng được, một ly nước quan trọng nhất, nước đại biểu điều gì? Đại biểu tâm. Nước phải sạch sẽ, tượng trưng tâm thanh tịnh; mặt nước không có sóng, tượng trưng tâm bình đẳng. Tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, đây là thành tựu của giới. Chúng ta cần suy xét, tâm của chúng ta có thanh tịnh không? Còn có thị phi nhân ngã, là không thanh tịnh; còn có cao thấp, là không bình đẳng. Không thanh tịnh, không bình đẳng, thì giới này là tu uổng phí rồi, nào có đạo lý như vậy!

Ở thời hiện đại của chúng ta, Pháp sư Quả Thanh học Giới luật, tôi rất bội phục ngài, tại sao vậy? Bởi ngài không có những khuyết điểm này. Ngài đối với người sơ học, sơ học chưa biết Giới luật, ngài không có tâm khinh thường. Vì sao không có khinh thường vậy? Bởi họ chưa học, chưa từng học thì không được trách họ. Đây là gì?  Đây là từ bi. Còn mình làm thế nào? Làm tấm gương tốt cho họ thấy, đó là giáo hóa họ, giáo hóa không có ý niệm cống cao ngã mạn ở trong đó. Giống như lão Hòa thượng Hải Hiền, thật sự là trì giới tinh nghiêm, ngài không chấp tướng của trì giới, nhưng tâm địa của ngài thanh tịnh bình đẳng, đó chính là sự thành tựu của giới. Phải biết đạo lý này; khi không biết, mà học Giới luật, không hay không biết tạo tội nghiệp càng nặng, vậy thì sai rồi.  Ở Trung Hoa cổ đại, một người đọc sách biết lễ, nếu không hiểu lễ, vẫn còn tập khí của cống cao, thì sách của quý vị đã đọc vô ích rồi.

Tiếp theo ngài trích dẫn Luận Đại Trí Độ, chúng ta đọc đoạn này một lần, 涅槃法無上。佛自知是涅槃,不從他聞,亦將導眾生令至涅槃。如諸法中,涅槃無上,眾生中佛亦無上。復次,持戒、禪定、智慧教化眾生,一切無有與等者,何況能過,故云無上 “Niết-Bàn pháp Vô thượng. Phật tự tri thị Niết-Bàn, bất tùng tha văn, diệc tương đạo chúng sanh linh chí Niết-Bàn. Như chư pháp trung, Niết-Bàn Vô thượng, chúng sanh trung Phật diệc Vô thượng. Phục thứ, trì giới, Thiền định, trí huệ giáo hóa chúng sanh, nhất thiết vô hữu dữ đẳng giả, hà huống năng quá, cố vân Vô Thượng” (Pháp Niết-Bàn Vô thượng. Phật tự biết là Niết-Bàn, không nghe từ người khác, lại có thể dẫn dắt chúng sanh đến Niết-Bàn. Như trong các pháp, Niết-Bàn là Vô thượng, trong chúng sanh Phật cũng là Vô thượng. Lại nữa, trì giới, Thiền định, trí huệ giáo hóa chúng sanh, tất cả không có ai bằng với Phật, huống hồ vượt qua được, nên nói là Vô Thượng). Vô Thượng là không cách nào có thể vượt qua được Ngài. Phật Bồ-tát dùng điều gì để giáo hóa chúng sanh? Tam học: Giới Định Huệ, trì giới, đây là Giới luật, Thiền định, trí huệ, Phật dùng Tam học: Giới Định Huệ. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật thân hành, ngôn giáo. Đời sau, đặc biệt là chúng ta hiện nay, hiện nay đến đâu để tìm Thiện tri thức, tìm người thầy giỏi? Trì giới, tu định, giảng kinh dạy học là trí huệ. Trí huệ từ đâu mà có? Từ trong Thiền định mà có. Định đến từ đâu? Định đến từ Giới. Do đó chúng ta biết, không có Giới thì không có Định, không có Định thì không có Huệ, họ chỉ có vọng tưởng, họ không có trí huệ. Điều này thì chúng ta học đến đây.

Xem tiếp điều thứ tám, 『調御丈夫』 “Điều Ngự Trượng Phu”. Trong Tịnh Ảnh Sớ nói: 能善調伏眾生,名調御丈夫“Năng thiện điều phục chúng sanh, danh Điều Ngự Trượng Phu” (Khéo có thể điều phục chúng sanh, gọi là Điều Ngự Trượng Phu). Đều là giúp đỡ chúng sanh, tập khí phiền não của chúng sanh rất nặng, làm thế nào quý vị điều chỉnh, làm sao hàng phục? Phật có phương tiện vô cùng khéo léo điều phục chúng sanh, đó gọi là Điều Ngự Trượng Phu. Trong Hợp Tán nói: 自既丈夫,復調丈夫,故號佛為調御丈夫 “Tự ký trượng phu, phục điều trượng phu, cố hiệu Phật vi Điều Ngự Trượng Phu” (Chính mình đã là trượng phu, lại điều phục trượng phu, nên xưng Phật là Điều Ngự Trượng Phu). Chính mình là đại trượng phu, đại trượng phu là tôn xưng đối với người có đức hạnh, bản thân thành tựu rồi, sau đó giúp đỡ người khác. Người khác cũng là trượng phu, đó chính là lời trên Kinh Hoa Nghiêm nói一切眾生本來是佛 “tất cả chúng sanh vốn là Phật”. Quý vị xem, Phật giáo hóa chúng sanh có dám coi thường chúng sanh không? Tâm thái này tốt, biết tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật, ngày nay họ ở địa vị phàm phu, chỉ là đã mê mất Tự Tánh, trở thành phàm phu, quý vị thấy Bản tánh của họ, Bản tánh là Như Lai, Bản tánh là Phật. Bởi vì chính mình đã là trượng phu, nên lại điều phục trượng phu. Phật giáo hóa chúng sanh, đối tượng giáo hóa, dưới Phật nhãn là bình đẳng. Trong tâm của phàm phu là có cao thấp, Phật ở trên cao ngất, theo không kịp, vì vậy sanh khởi tâm cung kính. Phật ở bên trên nhìn xuống dưới, phía dưới tất cả đều là Phật, chỉ là nhất thời mê hoặc, sanh khởi vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, phải cứu giúp những người này mãi mãi rời khỏi sự hư vọng. Phiền não là hư vọng, Lục đạo, Thập pháp giới giống như ảo ảnh, Phật nói rất hay, “tất cả pháp Hữu vi, như mộng ảo bọt bóng”. Phải biết là mộng ảo bọt bóng, đừng chấp trước mộng ảo bọt bóng, thì quý vị mới có thể ở trong mộng ảo bọt bóng để độ chúng sanh. Những chúng sanh ấy vốn đều là Phật, trong Phật nhãn hiện tại họ vẫn là Phật. Nhờ vậy, mà người giáo hóa chúng sanh có loại tâm thái này, đó là Bồ-tát, các ngài giác ngộ rồi.

Tại sao học trò phải cung kính đối với thầy? Cung kính đối với thầy, không phải là thầy yêu cầu họ cung kính. Quý vị phải cung kính đối với tôi, quý vị không cung kính thì tôi không dạy nữa, không phải là ý nghĩa này. Mà Thánh giáo, dạy học của Thánh hiền, tâm lý về dạy học, điều quan trọng nhất là phải chân tâm, tâm chân thành khởi tác dụng thì có cung kính, trong chân thành nhất định có cung kính. Tâm cung kính quý vị mới có thể được thọ dụng, quý vị mới có thể hiểu, thật nghe hiểu được, nghe thấu suốt được. Nếu không có thành ý, thì gió thoảng bên tai, không nghe hiểu, quý vị không thể tiếp nhận, thì thầy không dạy quý vị nữa. Thật sự có tâm cung kính, Đại sư Ấn Quang thường nói: “Một phần cung kính được một phần lợi ích, mười phần cung kính được mười phần lợi ích”. Từng chữ từng câu trong kinh giáo có vô lượng nghĩa, thế phải dùng điều gì? Dùng tâm cung kính sâu lắng nhất, thì quý vị đạt được toàn bộ rồi.

Tại sao Lục tổ Đại sư nghe Ngũ tổ giảng Kinh Kim Cang thì khai ngộ, còn những người chúng ta đây niệm Kinh Kim Cang, có người niệm cả đời cũng không khai ngộ? Căn tánh của Lục tổ có khác với các căn tánh của chúng ta không? Thành thật mà nói, không khác biệt. Không khác biệt, vì sao họ nghe không hiểu, họ không thể khế nhập? Bởi tâm cung kính bị mất hết rồi. Ngược lại của tâm cung kính chính là kiêu ngạo, có một số người kiêu ngạo mà bản thân họ không biết, nếu quý vị nói họ ngạo mạn, thì họ không vui, vả lại thế nào? Họ không thừa nhận. Sự thật này quá nhiều rồi, chúng ta thấy rất nhiều, gặp phải quá nhiều, là thật không phải giả. Vì thế Thánh học, học thuật của Thánh hiền, văn hóa truyền thống Trung Hoa là lời dạy của Thánh hiền, Tứ Khố Toàn Thư là thành tựu của tích lũy mấy ngàn năm bởi Thánh hiền. Đó là pháp bảo, đó là trí huệ chân thật, để lại cho người đời sau, người đời sau dựa vào điều gì để tiếp nhận? Dựa vào sự chân thành cung kính. Ấn Tổ nói, một phần thành kính, quý vị được một phần lợi ích; mười phần thành kính, quý vị được mười phần lợi ích; vạn phần thành kính, quý vị được vạn phần lợi ích, quý vị có thể được bao nhiêu, hoàn toàn xem chính quý vị dùng tâm thế nào, điều này quan trọng.

Chúng ta xem đoạn văn tiếp theo, vẫn là tiếp tục điều này, là trong Hợp Tán nói, 若具四法,則名丈夫 “nhược cụ tứ pháp, tắc danh Trượng Phu” (nếu đầy đủ bốn pháp, thì gọi là Trượng Phu). Trong Chú Giải này nói rất hay, phải đầy đủ bốn pháp được nói dưới đây, 何等為四:“hà đẳng vi tứ:” (những gì là bốn:) Thứ nhất là 近善知識 “cận Thiện tri thức” (gần Thiện tri thức), thân cận Thiện tri thức; thứ hai là 能聽法“năng thính pháp” (có thể nghe pháp), đầy đủ sự chân thành cung kính, chuyên tâm nghe pháp; thứ ba là 思惟義“tư duy nghĩa” (tư duy ý nghĩa), sau khi nghe xong có những sự gợi mở, thì thật nghe hiểu được; cuối cùng là, 如說修行“như thuyết tu hành” (tu hành như lời dạy). Quý vị nghe hiểu rồi, phải thực hiện trong đời sống, phải thực hành trong công việc, phải vận dụng trong xử việc đối người tiếp vật, quý vị thật sự làm được. Bốn điều kiện này, ba người niệm Phật vãng sanh ở chùa Lai Phật, các ngài đều làm được rồi, đó xưng là Trượng Phu. 又《會疏》曰:謂具大丈夫力用“Hựu Hội Sớ viết: vị cụ Đại Trượng Phu lực dụng” (Còn Hội Sớ nói: nghĩa là đầy đủ lực dụng của Đại Trượng Phu), lực là năng lực, dụng là tác dụng. Đại Trượng Phu là ai? Chư Phật Như Lai, chúng ta đối với Phật tôn xưng là Đại Trượng Phu. Lực dụng của Ngài là gì? Là dạy học. 而說種種諸法,調伏制御一切眾生“Nhi thuyết chủng chủng chư pháp, điều phục chế ngự nhất thiết chúng sanh” (Và thuyết tất cả các pháp, điều phục chế ngự hết thảy chúng sanh), căn tánh của tất cả chúng sanh khác nhau, nên Phật có thể thuyết tất cả Pháp môn khác nhau, độ chúng sanh căn tánh khác nhau. Chúng sanh có 84.000 phiền não, Phật có 84.000 Pháp môn, để giúp quý vị đoạn phiền não, thành tựu định huệ của quý vị. 令離垢染,得大涅槃 “Linh ly cấu nhiễm, đắc Đại Niết-Bàn” (Khiến rời khỏi cấu nhiễm, được Đại Niết-Bàn), cấu là ô nhiễm, có thể lìa khỏi, khôi phục tâm thanh tịnh, Tiểu thừa được Thiên chân Niết-Bàn, Đại thừa còn phải lìa khỏi cấu nhiễm vi tế hơn, là Trần sa Phiền não, Vô minh Phiền não, vậy thì được Đại Niết-Bàn của Như Lai đã chứng.

Tiếp theo có cuộc hỏi đáp, 或問:女人等亦應化度,何以獨標丈夫 “hoặc vấn: nữ nhân đẳng diệc ưng hóa độ, hà dĩ độc tiêu Trượng Phu” (có người hỏi: cũng nên hóa độ người nữ v.v…, vì sao chỉ nêu lên Trượng Phu). Nữ chúng, bất kể tại gia xuất gia, có giảng kinh, có người dạy học giáo hóa chúng sanh, vì sao trên kinh chỉ xưng Trượng Phu? Trong Luận Trí Độ nói: 若說丈夫,二根(同具男女二者之根)無根(天閹)及女盡攝,故說丈夫“Nhược thuyết Trượng Phu, nhị căn (đồng cụ nam nữ nhị giả chi căn) vô căn (thiên yêm) cập nữ tận nhiếp, cố thuyết Trượng Phu” (Nếu nói Trượng Phu, thì đã nhiếp hết cả nhị căn (cùng có đủ căn của nam và nữ) vô căn (bẩm sinh và bị thiến) và người nữ, nên nói là Trượng Phu). Vì vậy ở đây nói Trượng Phu, là bao gồm nữ chúng ở trong, không phải chuyên chỉ nam chúng. Người nữ mặc áo tràng đắp cà-sa lên đài giảng kinh, hiện tướng đại Trượng Phu. Nên tổng kết ở phía sau của Niệm lão nói, 蓋謂名為丈夫,則可概攝婦女、無根及二根等人“cái vị danh vi Trượng Phu, tắc khả khái nhiếp phụ nữ, vô căn cập nhị căn đẳng nhân” (ý nói gọi là Trượng Phu, thì cũng đều nhiếp cả phụ nữ, những người vô căn và nhị căn), tất cả người đều bao gồm trong đó, không phân biệt nam nữ.

Tiếp theo thứ chín, 『天人師』“Thiên Nhân Sư”.《淨影疏》曰:能以正法近訓天人,名天人師 “Tịnh Ảnh Sớ viết: năng dĩ Chánh pháp cận huấn thiên nhân, danh Thiên Nhân Sư” (Trong Tịnh Ảnh Sớ nói: có thể dùng Chánh pháp thân cận dạy bảo trời người, gọi là Thiên Nhân Sư). Trong Lục đạo, chỉ có thiện căn của cõi trời, cõi người là sâu dày, dễ tiếp nhận giáo huấn của Phật Bồ-tát. Ba đường còn lại khó khăn hơn nhiều, súc sanh ngu si, ngạ quỷ nghiệp nặng, địa ngục đó là cực khổ, Phật Bồ-tát ở trong đó chỉ có thể độ [chúng sanh] có duyên, có duyên là thế nào? Thiện căn sâu dày. Khi còn ở thế gian, cố ý hay vô ý tạo tác tội nặng nên đọa lạc trong ba đường ác, thật không dễ tiếp nhận. Chúng ta không muốn nói Lục đạo, thì dùng nhân gian để nói, ở nhân gian gặp được thầy giỏi, Thiện tri thức giảng kinh dạy học, rốt cuộc người thật sự để học tập thì ít, người không thấy không nghe càng nhiều nữa. Đạo tràng ở ngay trước mắt, họ không đến, họ cũng không đến nghe, đạo tràng giảng kinh ở ngay bên cạnh, nhưng họ không tới. Người thích đến nghe kinh, họ phải ngồi xe mấy tiếng mới đến được, họ vẫn muốn đến. Trước đây, khi chúng tôi còn trẻ theo thầy Lý, thầy Lý giảng kinh dạy học là một ngày trong một tuần, vào thứ tư. Vào mỗi tối thứ tư giảng kinh, người từ Đài Bắc đến, người từ Cao Hùng đến, là người chuyên môn đến nghe kinh, nghe xong rồi, thì họ đi tàu hỏa trở về. Khoảnh cách xa như vậy họ cũng không từ bỏ. Thầy giảng mỗi tuần là một lần, họ có thể đến nghe liên tục, không thiếu buổi học nào. Nếu ngày ngày giảng, thì họ không có nhiều thời gian như vậy, có thể vắng buổi học. Nếu vắng học, thì họ không thể đề khởi sự thích thú. Nên sự khéo léo của thầy, một tuần tôi giảng một lần, nhất định quý vị có thể sắp xếp tốt thời gian, để không trở ngại việc quý vị nghe kinh. Thầy ở Đài Trung 38 năm, 38 năm giống như một ngày.

Lúc đó trí huệ của chúng tôi chưa khai mở, nếu trí huệ khai mở rồi thì tôi khuyên thầy, có biện pháp, thầy có thể ngày ngày giảng kinh. Giảng các kinh khác nhau: thứ hai giảng Hoa Nghiêm, thứ ba giảng Pháp Hoa, thứ tư giảng Kinh Vô Lượng Thọ, người thích nghe bộ Kinh nào, thì hàng tuần họ đều đến nghe, họ sẽ liên tục; nếu kinh nào cũng thích, thì quý vị đến mỗi ngày. Như vậy Phật pháp sẽ hưng thịnh hơn những năm trước. Kinh thật sự phải ngày ngày giảng, ngày ngày nghe, tuy kinh khác nhau, nhưng tông chỉ nhất định là giống nhau, đều là giúp người phá mê khai ngộ, đây là tông chỉ chung của các bộ kinh. Vì thế, có thể dùng Chánh pháp thân cận dạy bảo chúng sanh trong hai cõi trời người.

《會疏》曰:所有天上人間、魔王外道、釋梵天龍,悉皆歸命 “Hội Sớ viết: sở hữu thiên thượng nhân gian, ma vương ngoại đạo, Thích Phạm thiên long, tất giai quy mạng” (Trong Hội Sớ nói: Tất cả thiên thượng nhân gian, ma vương ngoại đạo, Đế Thích, Phạm Thiên, chư thiên long thần, thảy đều quy mạng), quy mạng chính là quy y, 依教奉行,俱作弟子,故號天人師“y giáo phụng hành, câu tác Đệ tử, cố hiệu Thiên Nhân Sư” (y giáo phụng hành, đều làm Đệ tử, nên hiệu là Thiên Nhân Sư). Sự thật, năm xưa đức Thế Tôn còn ở đời dạy học, những gì mắt thường của chúng ta nhìn thấy là hàng phàm phu, còn mắt thường của chúng ta không nhìn thấy là có người cõi trời, có quỷ thần, còn có ma vương ngoại đạo, ma vương ở đây là chỉ trời Tha Hóa Tự Tại, có Phạm Thiên, có thiên long bát bộ, những đại chúng ấy đều đến nghe, nên xưng là Thiên Nhân Sư. 又《合贊》曰:諸佛雖為一切眾生無上大師,諸眾生中,唯天與人能發無上大菩提心,是故號佛為天人師“Hựu Hợp Tán viết: chư Phật tuy vi nhất thiết chúng sanh Vô Thượng Đại sư, chư chúng sanh trung, duy thiên dữ nhân năng phát Vô Thượng đại Bồ-đề tâm, thị cố hiệu Phật vi Thiên Nhân Sư” (Lại nữa trong Hợp Tán nói: tuy chư Phật là Vô Thượng Đại Sư của tất cả chúng sanh, nhưng trong các chúng sanh, chỉ có trời và người có thể phát tâm Vô Thượng đại Bồ-đề, vì vậy xưng hiệu Phật là Thiên Nhân Sư). Đây là chỉ người phát đại tâm, trong Lục đạo, chỉ có trời, người có thể phát tâm Bồ-đề. Tâm Bồ-đề chính là tâm thành tựu chúng sanh, phải dùng thanh tịnh bình đẳng, không có chấp trước, không có phân biệt, cư xử bình đẳng đối với tất cả chúng sanh, đây gọi là đại Bồ-đề tâm. Giúp chúng sanh phá mê khai ngộ, mục đích của nền giáo dục Phật-Đà, là khiến tất cả chúng sanh lìa khổ được vui. Khổ từ đâu tới? Từ mê mà tới, không hiểu rõ chân tướng sự thật, đã nghĩ sai, đã nhìn sai chân tướng sự thật, thế nên nói sai rồi, làm sai rồi, nghiệp chướng toàn thân này, nghiệp chướng chính là do như vậy mà tạo thành. Nếu quý vị nhìn rõ ràng, nhìn sáng tỏ, thì quý vị có thể không tạo nghiệp.

Nghiệp có thiện có ác, nghiệp thiện thì quả báo ba đường thiện, nghiệp ác thì quả báo ba đường ác, Lục đạo là do tâm của chính chúng ta khởi tâm động niệm mà biến hiện ra, tự làm tự chịu. Nếu hiểu rõ chân tướng sự thật, thì làm thiện, không chấp tướng làm thiện, trong tâm không có, trong tâm chỉ có A Mi Đà Phật, quên mất tướng của làm thiện rồi; đoạn ác, cũng không chấp tướng của đoạn ác. Trong tâm chỉ có A Mi Đà Phật, ngoài A Mi Đà Phật ra, tạp niệm gì cũng không có, vọng tưởng gì cũng không có, như vậy chắc chắn được sanh Thế giới Cực Lạc. Pháp môn Tịnh Độ niệm Phật vãng sanh, từ đây mà kiến lập. Cầu sanh Tịnh Độ là tâm Vô Thượng Bồ-đề, tại sao vậy? Bởi sanh đến Thế giới Cực Lạc thì làm Phật thôi, an toàn ổn định, sẽ không thoái chuyển, một đời thành tựu. Không có Pháp môn nào trực tiếp hơn, ổn định hơn Pháp môn này, vả lại thành tựu cao như vậy, tìm không ra nữa. Do đó xưng Phật là Thiên Nhân Sư.

Đoạn cuối cùng, thứ mười, 『佛世尊』“Phật Thế Tôn”, là kết hợp Phật và Thế Tôn lại. 《成實論》等“Thành Thật Luận đẳng” (Luận Thành Thật vân vân), là luận của Tiểu thừa, 開為兩號,以佛為第九號,世尊為第十號 “khai vi lưỡng hiệu, dĩ Phật vi đệ cửu hiệu, Thế Tôn vi đệ thập hiệu” (tách thành hai đức hiệu, coi Phật là đức hiệu thứ chín, Thế Tôn là đức hiệu thứ mười). 今依《涅槃經》“Kim y Niết Bàn Kinh”, Tập Chú ở chỗ này là căn cứ Kinh Niết Bàn, Kinh Niết Bàn gộp Phật, Thế Tôn thành một hiệu, đức hiệu thứ mười. 佛者覺也。自覺、覺他與覺滿 “Phật giả giác dã. Tự giác, giác tha dữ giác mãn” (Phật: là giác. Tự giác, giác tha và giác mãn), tự giác, giúp người khác giác ngộ, nên tự giác và giác tha đều làm được viên mãn, như vậy thành Phật rồi. Tự giác, giác tha chưa viên mãn là Bồ-tát, viên mãn thì xưng là Phật. 又《合贊》曰:佛者名覺,既自覺悟,復能覺他。譬如有人覺知有賊,賊無能為 “Hựu Hợp Tán viết: Phật giả danh giác, ký tự giác ngộ, phục năng giác tha. Thí như hữu nhân giác tri hữu tặc, tặc vô năng vi” (Thêm nữa trong Hợp Tán nói: Phật gọi là Giác, đã tự giác ngộ, lại có thể giác tha. Thí như có người biết có tên trộm, nên tên trộm không làm gì được). Trong Hợp Tán có ví dụ này, đây là ví dụ cho dụng ý của chữ “giác” này, mê là không biết. Thí như có tên trộm, mọi người đều không biết anh ta, không biết anh ta là tên trộm, thì tên trộm dễ dàng thuận lợi, anh ta đến lấy trộm tài vật. Nếu biết anh ta là tên trộm, thì anh ta không dám ra tay, tại sao vậy? Bởi có người mất thứ gì, thì người ta chắc chắn khẳng định đó là tên trộm. Chẳng những anh ta không dám hạ thủ, mà còn làm cảnh sát, vì sao vậy? Bởi nếu khi người khác ăn trộm thì sẽ vu cáo anh ta trước, nên anh ta sẽ trông nom cho người khác. Ví dụ này rất có đạo vị.

又佛名知者。如《智度論》曰:佛陀,秦言知者 “Hựu Phật danh trí giả. Như Trí Độ Luận viết: Phật-Đà, Tần ngôn trí giả” (Lại nữa Phật là bậc trí. Như Luận Trí Độ nói: Phật-Đà, thời Tần gọi là Trí giả).  Tần ngôn chính là lời nói của Trung Hoa, bởi vì khi đó Luận Đại Trí Độ là do Đại sư Cưu Ma La Thập phiên dịch, lúc đó nơi của Đại sư La Thập cư trú là nước Tần, thời đại Diêu Tần, nên gọi là Tần ngôn. Biết quá khứ, biết vị lai, cũng biết hiện tại, Phật có trí huệ, Ngài biết tất cả ba đời quá khứ hiện tại vị lai. Ở đây nêu một ví dụ, số lượng chúng sanh và số lượng phi chúng sanh, Phật đều biết chúng sanh có bao nhiêu, phi chúng sanh có bao nhiêu. 有常、無常等一切諸法 “Hữu thường, vô thường đẳng nhất thiết chư pháp” (Tất cả các pháp hữu thường, vô thường vân vân), thứ gì là hữu thường, thứ gì là vô thường, Tự Tánh hữu thường, vạn pháp vô thường, Phật biết tất cả. 菩提樹下,了了覺知,故名為佛陀“Bồ-đề thọ hạ, liễu liễu giác tri, cố danh vi Phật-Đà” (Dưới cây Bồ-đề, hiểu rõ biết hết, nên gọi là Phật-Đà). Vì vậy đức Phật thật sự là không gì không biết, không gì không thể. 又佛一切智慧成就故,過去、未來、現在,盡不盡、動不動,一切世間了了悉知,故名為佛陀 “Hựu Phật nhất thiết trí huệ thành tựu cố, quá khứ, vị lai, hiện tại, tận bất tận, động bất động, nhất thiết thế gian liễu liễu tất tri, cố danh vi Phật-Đà” (Lại nữa đức Phật thành tựu tất cả trí huệ, hiểu rõ biết hết quá khứ, vị lai, hiện tại, tận hay bất tận, động hay bất động, tất cả thế gian, nên gọi là Phật-Đà). Đều là nói rõ chữ “Phật” này. Chữ “Phật” này được dịch âm từ tiếng Phạn, ở Trung Hoa không tìm ra một chữ thích hợp để dịch, bởi vì ý nghĩa của chữ “Phật” này rất nhiều. Vì vậy dùng dịch âm, sau đó lại thêm lời chú thích. Chữ “Phật” này, có trí huệ, có giác ngộ, có ý nghĩa như vậy, trí có: Nhất thiết trí, Đạo chủng trí, Nhất thiết Chủng trí, giác: có tự giác, có giác tha, có giác hạnh viên mãn, nên là dùng những lời này để giải thích. Lại bởi Phật thành tựu tất cả trí huệ, hiểu rõ biết được hết quá khứ, vị lai, hiện tại, tận hay bất tận, động hay bất động, tất cả thế gian, tất cả thế gian ở đây là toàn thể vũ trụ, trong Phật pháp xưng là Pháp giới hư không giới, nên gọi là Phật-Đà.

世尊梵名薄伽梵 “Thế Tôn Phạn danh Bạc Già Phạm”(Thế Tôn tiếng Phạn là Bạc Già Phạm), là dịch âm, 圓備眾德,為世欽重,故號世尊 “viên bị chúng đức, vi thế khâm trọng, cố hiệu Thế Tôn”(đầy đủ trọn vẹn các đức, được thế gian kính trọng, nên hiệu là Thế Tôn). Thế là thế gian, tôn là tôn trọng, hoặc là tôn quý, hoặc là tôn kính, người thế gian tôn trọng Ngài, tôn kính Ngài. Tại sao vậy? Bởi Ngài là người có đạo đức, không chỉ có đạo đức, mà còn đầy đủ trọn vẹn các đức, Ngài có đầy đủ tất cả đạo đức, nên người thế gian vô cùng tôn trọng Ngài, xưng là Thế Tôn. Trong phẩm Thập Hiệu của Luận Thành Thật nói, 如是九種功德 “như thị cửu chủng công đức”(chín loại công đức như thế), chín loại công đức này là chỉ chín hiệu trước, chín loại danh hiệu, Ngài đầy đủ tất cả, 於三世十方世界中尊“ư tam thế thập phương thế giới trung tôn”(được tôn kính trong thế giới ba đời mười phương). Ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai, mười phương: đông nam tây bắc, bốn góc trên dưới, đây chính là bao gồm cả vũ trụ. Trong toàn vũ trụ, tất cả chúng sanh gặp được Phật đều sẽ tôn trọng, nên xưng là Thế Tôn, người đáng được tôn kính nhất trên thế gian.

又《智度論》以佛為第十號,以世尊為具十號尊德之總號 “Hựu Trí Độ Luận dĩ Phật vi đệ thập hiệu, dĩ Thế Tôn vi cụ thập hiệu tôn đức chi tổng hiệu”(Còn Luận Trí Độ coi Phật là hiệu thứ mười, coi Thế Tôn là đức hiệu chung tôn kính của cả mười hiệu), Phật là đức hiệu thứ mười, Luận Đại Trí Độ, [coi] Thế Tôn là riêng ra. Đầy đủ mười hiệu phía trước, dùng Thế Tôn làm một tổng kết, tổng kết này chính là tôn kính. Hiện nay chúng ta đang rất nhiều trường hợp, trong lời mở đầu phía trước, nhất định có rất nhiều người có thân phận, có địa vị tham gia, chúng ta đều xưng là người nào đó tôn kính, người nào đó đáng kính, đó chính là ý nghĩa của Thế Tôn, đây là hiệu chung. 與此開合稍異,義無不同 “Dữ thử khai hợp sảo dị, nghĩa vô bất đồng”(Việc tách ra hay gộp lại hơi khác với ở đây, nhưng ý nghĩa đều giống nhau), trên kinh có tách một hiệu thành hai hiệu, có gộp hai hiệu làm một hiệu, nhưng ý nghĩa cơ bản là giống nhau.

Sau khi chúng ta học qua mười hiệu, chúng ta xem tiếp, 住世度眾 “Trụ Thế Độ Chúng” (Trụ Thế Độ Chúng Sanh). Phật hiệu này là đức của Phật, là năng của Phật, đạo đức của Ngài, năng lực của Ngài: đầy đủ viên mãn dạy trí huệ đức năng cho thế gian. Quý vị xem Ngài:

【在世教授四十二劫。時為諸天及世人民說經講道。】

“Tại thế giáo thọ tứ thập nhị kiếp. Thời vị chư thiên cập thế nhân dân thuyết kinh giảng đạo” (Ở đời giáo dục truyền dạy 42 kiếp. Thường vì chư thiên cho đến nhân dân thuyết kinh giảng đạo).

Đối với câu này, đồng học học Phật của chúng ta, bất kể tại gia xuất gia, phải luôn nhớ kỹ. Chư Phật Như Lai, Bồ-tát, A-la-hán ở thế gian làm gì vậy? Đó là thời thời khắc khắc thuyết kinh giảng đạo cho chúng sanh Lục đạo, quý Ngài chỉ đến làm điều này. Có dùng ngôn ngữ, có không dùng ngôn ngữ, không dùng ngôn ngữ là làm tấm gương, làm ra để cho quý vị thấy. Lão Hòa thượng Hải Khánh, lão Hòa thượng Hải Hiền không phải là dùng ngôn ngữ, mà các ngài dùng thân hành, các ngài hoàn toàn thực hiện từng ly từng tí sự lý trên Kinh Vô Lượng Thọ vào trong cuộc sống. Quý vị xem cuộc sống của các ngài, chính là Kinh Vô Lượng Thọ, quý vị xem các ngài làm việc, các ngài xử việc đối người tiếp vật, thể hiện Kinh Vô Lượng Thọ ở trên thân, chúng ta phải có khả năng thể hội được, phải có thể nhìn ra được. Ngài biểu diễu trong 92 năm, là Kinh Vô Lượng Thọ sống, rất sống động. Vì vậy sau khi tôi xem đĩa phim về ngài, tôi vô cùng khen ngợi, thật hiếm có! Tôi nói đĩa phim ấy chính là Kinh Vô Lượng Thọ, là tổng kết của Kinh Vô Lượng Thọ. Tổng kết trong cuộc sống, tổng kết trong công việc, tổng kết trong xử việc đối người tiếp vật, tổng kết trong tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, không thể nghĩ bàn!

Xuất hiện vào lúc này, pháp vận của đức Thế Tôn về sau vẫn còn 9.000 năm. Chúng ta là thời kỳ Mạt pháp, Mạt pháp 10.000 năm, chúng ta là năm thứ 41 trong 1.000 năm thứ hai. Từ nay về sau còn 9.000 năm, chúng sanh trên địa cầu dựa vào điều gì để được độ? Là dựa vào bộ Kinh này. Tại sao vậy? Bởi bộ Kinh này đơn giản, dễ dàng, thật sự dễ tu thành. Nhưng bộ Kinh này là khó tin nhất, đặc biệt là thời đại khoa học ngày nay. Khó nên ba vị Bồ-tát ở chùa Lai Phật ấy thị hiện cho chúng ta, tại sao? Bởi nếu không thị hiện, quý vị nói với họ, thì không ai tin theo, họ không tin. Làm ra để cho quý vị thấy, đặc biệt là biểu diễn không có tám nỗi khổ. Người thế gian này của chúng ta ai không có tám nỗi khổ? Sanh lão bệnh tử, ai có thể thoát được? Ái biệt ly, Oán tắng hội, Cầu bất đắc, khổ biết mấy, còn có Ngũ ấm Xí thạnh. Ba người ấy không có, các ngài không có bất kỳ khổ nào trong tám nỗi khổ này, đó chính là gì? Mục đích dạy học của Phật pháp. Mục đích dạy học của Phật pháp, giúp chúng ta rời khổ được vui, rời khổ gì? Bát khổ, không còn; được vui, thật được vui. Lão Hòa thượng bất kể lúc nào quý vị thấy ngài cũng mỉm cười, thảy đều hoan hỷ, nên nam nữ già trẻ, xuất gia tại gia, nhìn thấy ngài thì chẳng ai mà không sanh tâm hoan hỷ. 112 tuổi tự chăm sóc chính mình, không cần người hầu hạ, người thế gian của chúng ta đây, già bảy tám mươi tuổi cần người khác chăm sóc rồi, không có người chăm sóc không được. Đó là lìa khổ được vui, nhìn từ đó, là thật không phải giả. Những việc này, giàu nghèo sang hèn trên thế gian đều không thể tránh khỏi, Pháp môn Tịnh Độ miễn hết tất cả cho quý vị. Các lão Hòa thượng là thân giáo, hiệu quả lớn hơn ngôn giáo. Ngày ngày chúng ta đang giảng kinh dạy học, là ngôn giáo, phải có người thân giáo để làm chứng minh, để mọi người tin tưởng, vấn đề này mới có thể giải quyết được.

Chúng ta xem Chú Giải của Niệm lão, 在世教授四十二劫,時為諸天及世人民說經講道 “tại thế giáo thọ tứ thập nhị kiếp, thời vị chư thiên cập thế nhân dân thuyết kinh giảng đạo” (Ở đời giáo dục truyền dạy 42 kiếp, thường vì chư thiên cho đến nhân dân thuyết kinh giảng đạo). Ở đây vừa mở đầu chúng ta đã thấy được, tiếp theo 見《漢譯》“kiến Hán dịch”(thấy trong bản Hán Dịch). 彼佛住世宏法共四十二劫 “Bỉ Phật trụ thế hoằng pháp cộng tứ thập nhị kiếp”(Đức Phật ấy trụ thế hoằng pháp tổng cộng 42 kiếp), lúc ấy phước báo của nhân dân lớn, tại sao? Bởi thọ mạng dài. Phật nói với chúng ta, người trên địa cầu của chúng ta, thọ mạng dài nhất là 84.000 ngàn tuổi, lúc ngắn nhất là 10 tuổi. Trên kinh có cách nói, khi tuổi thọ ít nhất là 10 tuổi, mỗi 100 năm tăng thêm một tuổi, thêm đến 84.000 tuổi thì hết mức, không thêm được nữa; sau 84.000 tuổi, mỗi 100 năm giảm một tuổi, lại giảm đến 10 tuổi, một tăng một giảm như vậy gọi là một Tiểu kiếp, một Tiểu kiếp thời gian dài như vậy. Nên tuổi thọ của nhân loại, tuổi thọ người trên địa cầu dài nhất 84.000 tuổi. Ở đây đức Thế Gian Tự Tại Vương Phật ở đời giáo dục truyền dạy là 42 kiếp, còn đức Thích Ca Mâu Ni Phật ở thế gian dạy học 49 năm, giảng kinh hơn 300 hội, thuyết pháp 49 năm. Hội ấy ở Thế giới này vô cùng thù thắng trang nghiêm, tuổi thọ của người dài như thế, thời gian giảng kinh dạy học của Phật dài, huân tu lâu dài dễ dàng khai ngộ.

Chúng ta phải nhớ, Đệ tử của Phật phải hết khả năng mà học giảng kinh, thuyết kinh giảng đạo, đây là bổn phận của chúng ta, người tại gia cũng phải làm. Lão Cư sĩ Lý Bỉnh Nam là người tại gia, lão Cư sĩ Hạ Liên Cư là người tại gia, lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ cũng là người tại gia, là Bồ-tát, Đại đức thật sự. Người xuất gia cần phải thuyết kinh giảng đạo, nếu người tại gia có năng lực thì cũng nên tham gia thuyết kinh giảng đạo, báo ân của Phật, báo ân của chúng sanh. Nếu chính mình không làm được, thì hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển, đĩa CD đã ghi các bài giảng kinh dạy học của chúng ta, làm thành CD rồi mang theo bên người để nghe, chi phí rất thấp, có âm thanh, có văn tự. Một đạo tràng, mỗi ngày đến lúc đó thì chúng ta sẽ mở lên, phát ra, hoan nghênh mọi người đến nghe, cùng học tập. Trong đó có một người đến phát tâm giải đáp thắc mắc, chính là dẫn dắt đại chúng huân tu, hướng dẫn mọi người tu hành, chứ chính mình không cần giảng. Nhưng phải làm một người chỉ đạo tốt, chính mình cần phải nghe kinh này ít nhất 30 lần. Nghe 30 lần đã nghe quen thuộc rồi, khi người khác vừa hỏi thì quý vị biết, quý vị liền biết trả lời thế nào, gợi ra sự hứng thú học tập của đại chúng. Phải làm, tôi sẽ không ngần ngại, đầu tiên tôi nghe 30 lần đĩa CD này, sau đó có thể chia sẻ với mọi người. Mở đĩa CD này mọi người cùng xem, cùng chia sẻ, rất có thọ dụng. Lần này chúng ta, năm nay chúng ta đã làm thực nghiệm này, rất thành công. Nên chúng ta có lớp học Kinh, chúng ta là thứ ba, năm, bảy, ba lần một tuần, mỗi lần hai tiếng, mọi người đưa ra báo cáo tâm đắc, cùng chia sẻ. Chủ nhật, thứ hai, thứ tư, thứ sáu, bốn ngày ấy chúng ta học kinh, tôi giảng ở đây. Về sau người giảng kinh càng ngày càng ít, thì đĩa CD sẽ khởi tác dụng rất lớn, mong rằng mỗi đạo tràng, mỗi vị Pháp sư, Đại đức giảng kinh hãy lưu lại đĩa CD. Chỉnh lý đĩa CD thật tốt, tương lai đều là tài liệu giảng dạy, tài liệu dạy học của Phật Học viện chắc chắn là dùng đĩa CD của thời đại này làm cơ sở.

Chẳng những Phật pháp, mà với dạy học thế gian tôi cũng có cảm xúc này, sau 20 năm nữa trong trường Đại học còn có giáo viên không? Cách nhìn của tôi là có căn cứ, 100 năm qua, xuống dốc, văn hóa học thuật đi xuống dốc, thế hệ sau không bằng thế hệ trước. Thế hệ trước của chúng tôi, khi so sánh thầy Lý với tôi, thì chúng tôi còn kém rất xa, khoảng cách rất lớn rồi. Thầy của chúng tôi so với thế hệ trước, Đại sư Ấn Quang, Pháp sư Viên Anh, Pháp sư Đế Nhàn, đó cũng chênh lệch rất lớn. Đi xuống như vậy là thế hệ sau không bằng thế hệ trước, thế hệ sau của chúng ta so với chúng ta lại có chỗ thua kém, vậy làm sao đây? Thật có vấn đề. Do đó, tương lai đĩa CD sẽ khởi tác dụng rất lớn, người thật sự hiếu học không thể rời khỏi đĩa CD. Đĩa CD cần có người thay, hướng dẫn, có người để trợ giúp, làm trợ giảng cho đĩa CD, làm huấn luyện viên cho đồng học.

Bỏ đi lâu như thế, khôi phục cũng cần thời gian, không thể nào nhanh chóng khôi phục được, không thể được, dù sao cũng phải 100 năm. 100 năm nhất định xã hội phải an định, nếu xã hội không an định, thì không có cách nào nữa, nhất định xã hội phải an định. Hi vọng xã hội này, mọi người chúng ta có thể giác ngộ, không nên chạy theo của cải, mà nên truy cầu văn hóa, đặc biệt là văn hoá truyền thống, phải khẳng định Tổ tông có trí huệ hơn chúng ta, chúng ta không bằng Tổ tông. Luận Ngữ của Khổng tử, bảy thiên của Mạnh tử, được viết vào 2.500 năm trước, hiện nay ai có thể viết ra được không? Không có, đây là thật không phải giả. Làm sao có thể coi thường Cổ nhân? Phải khẳng định người xưa có trí huệ siêu việt, tại sao vậy? Bởi các ngài kiến tánh rồi. Tại sao các ngài được vậy? Bởi tâm của các ngài thanh tịnh, các ngài không có Ngũ dục Lục trần, các ngài không có phân biệt chấp trước, các ngài thông suốt được với tâm tánh, với Chân Tâm. Vì thế, từ trong Chân Tâm lưu lộ ra, trí huệ chân thật, vượt qua thời gian không gian, chúng ta phải hiểu rõ đạo lý này.

Nếu thế hệ chúng ta không có chút thành tựu, không thể truyền lại những kiến thức bị thất truyền của Thánh xưa, thì làm sao chúng ta xứng đáng với Tổ tông? Làm sao xứng đáng với thế hệ sau? Việc lớn: kế thừa người trước dẫn dắt người sau, thì chúng ta phải đảm đương, không đảm đương cũng phải đảm đương, không phản đối. Phải học đức Phật, thời gian dài vì nhân dân thuyết kinh giảng đạo, điều này có thể cứu xã hội, cứu được quốc gia, cứu được thế giới. Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là cầu sanh Tịnh Độ, nhưng sống một ngày làm một ngày, là báo ân của Phật. Tốt rồi, thời gian hôm nay đã hết, chúng ta học tập đến đây thôi.

(Hết tập 140)

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử cùng chúng sanh

Đều sanh nước Cực Lạc

Sớm viên thành Phật đạo

Rộng độ khắp chúng sanh

Nam Mô A Mi Đà Phật