Responsive Menu
Add more content here...

Tập 248 – Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2014

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014

(Giảng lần thứ 4)

Phẩm thứ 9: Thành Tựu Viên Mãn

Phẩm Thứ 10: Đều Nguyện Thành Phật

Tập 248

Hòa thượng Thích Tịnh Không chủ giảng.

Giảng tại: Hiệp Hội Giáo Dục Phật Đà Hồng Kông.

Thời gian: Ngày 13 tháng 9 năm 2015.

Dịch giả: Diệu Thương.

Giảo chánh: Thích Thiện Trang.

  Kính chào chư vị pháp sư, chư vị đồng học, kính mời ngồi, mời ngồi. Mời mọi người cùng tôi quy y Tam Bảo: “A-xà-lê tồn niệm, ngã Đệ tử Diệu Âm, thuỷ tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật-Đà, lưỡng túc trung tôn; Quy y Đạt-ma, ly dục trung tôn; Quy y Tăng-già, chư chúng trung tôn. (3 lần)

Mời xem 《大經科註》Đại Kinh Khoa Chú, trang 596, hàng thứ 6 từ trái sang, chúng ta xem từ chỗ này:

Đây là nói 成佛以來,於今十劫 “thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp” (thành Phật đến nay, đã được mười kiếp). A Mi Đà Phật ở Thế giới Cực Lạc thị hiện thành Phật, mãi cho đến đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng bộ kinh này, vì chúng ta giới thiệu, thời gian ấy là mười kiếp. Phía trước Niệm lão đặc biệt nhắc nhở chúng ta. 但應著眼 “Đãn ưng trước nhãn”( Phải nên chú ý). Chính là cần phải chú ý chi tiết này, mười kiếp mà chỗ này đã nói, 正是為酬願度生示現之事相,此乃一期應機之權說  “chánh thị vị thù nguyện độ sanh thị hiện chi sự tướng, thử nãi nhất kỳ ứng cơ chi quyền thuyết” (chính là tướng của việc thị hiện vì đáp lại lời nguyện độ sanh, đây là sự quyền biến thuyết pháp về khoảng thời gian thích hợp với căn cơ). Giống như đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã thành Phật từ kiếp xa xưa, rất sớm rồi. Ba ngàn năm trước giáng sinh ở Ấn Độ, trụ thế 80 năm, vì chúng ta giảng kinh thuyết pháp 49 năm, đây chính là quyền thuyết ứng cơ một thời của đức Thế Tôn. Bởi vậy có thể biết, A Mi Đà Phật: cũng là thành Phật từ kiếp xa xưa, lần này thị hiện ở Thế giới Cực Lạc tại phương tây, là sau khi ngài thành Phật độ hóa chúng sanh, là khoảng thời gian này mà thôi, nên liễu giải chân tướng sự thật này. Cho nên 若究其實  “nhược cứu kỳ thật” (nếu truy xét sự thực ấy), cần phải truy xét chính xác về Ngài. 則彌陀實久已成佛  “Tắc Mi Đà thật cửu dĩ thành Phật” (Thì đức Mi Đà thật đã thành Phật từ lâu rồi). Đức Mi Đà chính là Đại Nhật Như Lai của Mật tông. Điều này ở phần phía trước đã nói 大乘密嚴經 “Đại Thừa Mật Nghiêm Kinh” (trong Kinh Đại Thừa Mật Nghiêm).

 Bây giờ sẽ cử ra ba điều phía sau để chứng minh, 更引三證  “cánh dẫn tam chứng” (lại dẫn ba bằng chứng). Điều thứ nhất 《法華經化城喻品》云:乃往過去無量無邊不可思議阿僧祇劫 “Pháp Hoa Kinh Hóa Thành Dụ phẩm vân: nãi vãng quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì A-tăng-kỳ kiếp” (trong phẩm Hóa Thành Dụ của Kinh Pháp Hoa nói rằng: chính là đã trải qua quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì a-tăng-kỳ kiếp). Thời gian này rất dài, chúng ta không cách nào tính đếm, là khoảng thời gian vô cùng dài. 爾時有佛,名大通智勝如來。其佛未出家時,有十六子 “Nhĩ thời hữu Phật, danh Đại Thông Trí Thắng Như Lai. Kỳ Phật vị xuất gia thời, hữu thập lục tử” (Lúc bấy giờ có đức Phật, hiệu là Đại Thông Trí Thắng Như Lai. Lúc vị Phật ấy chưa xuất gia, có mười sáu người con). Ngài có 16 người con trai. 爾時十六王子皆以童子出家而為沙彌。我今語汝:彼佛弟子十六沙彌,今皆得阿耨多羅三藐三菩提,於十方國土現在說法。…西方二佛,一名阿彌陀 “Nhĩ thời thập lục vương tử giai dĩ đồng tử xuất gia nhi vi Sa-di. Ngã kim ngữ nhữ: bỉ Phật đệ tử thập lục Sa-di, kim giai đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, ư thập phương quốc độ hiện tại thuyết pháp… tây phương nhị Phật, nhất danh A Mi Đà” (Lúc bấy giờ 16 vị vương tử đều với tư cách là đồng tử xuất gia mà làm Sa-di. Nay Ta nói cho các ông nghe: 16 vị Sa-di Đệ tử của đức Phật ấy, nay đều đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiện tại thuyết Pháp ở cõi nước mười phương… hai vị Phật ở phương tây, một vị tên là A Mi Đà). Là người con thứ 9 của Đại Thông Trí Thắng Như Lai, 第十六我釋迦牟尼佛 “đệ thập lục Ngã Thích Ca Mâu Ni Phật” (người con thứ 16 là Thích Ca Mâu Ni Ta). Nói cách khác, trong thời gian đó, trước khi Đại Thông Trí Thắng Như Lai còn chưa xuất gia, đức Thích Ca Mâu Ni Phật cùng A Mi Đà Phật là anh em. Sau này đều xuất gia rồi. 於娑婆國土,成阿耨多羅三藐三菩提 “Ư Ta Bà quốc độ, thành A-nậu-Đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề” (Ở cõi nước Ta Bà, thành A-nậu-Đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề). Đức Thế Tôn thành Phật ở thế giới Ta Bà, đức Mi Đà thị hiện thành Phật ở Thế giới Cực Lạc, quả thực nói về thời kiếp quá dài. 上明彌陀乃十六王子中之第九王子,釋迦是第十六王子 “Thượng minh Mi Đà nãi thập lục vương tử trung chi đệ cửu vương tử, Thích Ca thị đệ thập lục vương tử” (Ở trên nói rõ trong 16 vị vương tử, thì đức Mi Đà là vương tử thứ 9, đức Thích Ca là vương tử thứ 16).

釋迦成佛以來,已無量劫,如《法華壽量品》云:爾時佛告大菩薩眾,諸善男子:今當分明宣語汝等。是諸世界,若著微塵,及不著者,盡以為塵,一塵一劫,我成佛以來,復過 “Thích ca thành Phật dĩ lai, dĩ vô lượng kiếp, như Pháp Hoa Thọ Lượng Phẩm vân: Nhĩ thời Phật cáo Đại Bồ-tát chúng, chư Thiện nam tử: Kim đương phân minh tuyên ngữ nhữ đẳng. Thị chư thế giới, nhược trước Vi trần, cập bất trước giả, tận dĩ Vi trần, nhất trần nhất kiếp, Ngã thành Phật dĩ lai, phục quá”(Đức Thích Ca thành Phật đến nay, đã vô lượng kiếp, như trong phẩm Thọ Lượng của Kinh Pháp Hoa nói rằng: Lúc bấy giờ Phật nói với chúng Đại Bồ-tát, chư Thiện nam tử: nay Ta nên rõ ràng nói với các ông. Các thế giới đó, hoặc dính Vi trần, và không dính Vi trần, đem nghiền hết làm Vi trần, mỗi một Vi trần tính là một kiếp, Ta thành Phật đến nay, đã vượt quá), quá là vượt qua, vượt qua ví dụ đó, 於此百千萬億那由他阿僧祇劫 “ư thử bá thiên vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp” (trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp so với số ấy), vượt hơn! Là rất lâu rất lâu rồi. 如來見諸眾生,樂於小法。德薄垢重者,為是人說,我少出家,得阿耨多羅三藐三菩提“Như Lai kiến chư chúng sanh, nhạo ư tiểu pháp. Đức bạc cấu trọng giả, vị thị nhân thuyết, Ngã thiểu xuất gia, đắc A-nậu-Đa-la Tam-miệu Tam Bồ-đề” (Đức Như Lai thấy các chúng sanh, ưa thích pháp nhỏ. Với kẻ đức mỏng chướng sâu, mà nói cho người ấy, Ta mới xuất gia, đắc A-nậu-Đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề). Đây là dùng quyền xảo để thuyết pháp. Người ấy nghiệp chướng rất nặng, ô nhiễm rất sâu, thuyết đại pháp thì người ấy không thể tiếp nhận, cũng không thể tin tưởng, cho nên chỉ là trước mắt, đức Thích Ca Mâu Ni Phật sanh ra ở thế gian này, Ta từ nhỏ, 19 tuổi, đã xả bỏ ngôi vua đi xuất gia, vì thế gọi là mới. Thuyết pháp như vậy thì người ấy mới dễ dàng tiếp nhận, cũng dễ dàng lý giải. Đó đều là lần giảng đầu tiên, chính là làm ra hành động này, từ đầu đến cuối, đó là một khoảng thời gian. Lại nữa Như Lai thấy các chúng sanh, đây là chúng ta vừa mới đọc qua. Tiếp theo đây, 然我實成佛以來,久遠若斯,但以方便,教化眾生,令入佛道,作如是說“nhiên Ngã thật thành Phật dĩ lai, cửu viễn nhược tư, đãn dĩ phương tiện, giáo hóa chúng sanh, linh nhập Phật đạo, tác như thị thuyết” (nhưng thật sự Ta thành Phật đến nay, lâu xa như thế, nhưng vì phương tiện, giáo hóa chúng sanh, khiến nhập Phật đạo, mà nói như thế).  Cũng có thể nói như thế, mục đích chính là giúp đỡ người đương cơ, chính là đối tượng mà đức Phật đã nói ở phía trước, nếu người ấy có thể tiếp nhận, có thể sinh lòng tin tưởng, nếu có thể nghe hiểu được, sau này có thể y giáo phụng hành, liền đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp. Cho nên đã nói như thế.

釋迦於印度成佛,成佛以來,於今二千餘年 “Thích Ca ư Ấn Độ thành Phật, thành Phật dĩ lai, ư kim nhị thiên dư niên ” (Đức Thích Ca thành Phật ở Ấn Độ, thành Phật đến nay, hơn 2000 năm). Theo ghi chép của Đại đức Trung Hoa xưa, thì đức Thích Ca Mâu Ni Phật sinh ra là năm thứ 24 niên hiệu Chu Chiêu Vương, nhập diệt là năm thứ 53 niên hiệu Chu Mục Vương. Đối chiếu với cách nói này, [bởi] ghi chép của Trung Hoa rất rõ ràng, vậy đối chiếu với phép tính của Trung Hoa, tất nhiên là 3042 năm. Trước đây lão Hòa thượng Hư Vân và những người khác đều sử dụng lịch này, không dùng 2550 năm như ở nước ngoài, không dùng lịch đó, dùng 3042 năm ở Trung Quốc. 故彌陀於極樂成佛,於今十劫,亦復如是 “Cố Mi Đà ư Cực Lạc thành Phật, ư kim thập kiếp, diệc phục như thị” (Cho nên đức Mi Đà thành Phật ở Cực Lạc, đến nay đã mười kiếp, cũng là như vậy). Đích thực đều là thành Phật từ kiếp lâu xa. Trong Kinh có ghi chép, lần này đức Thích Ca Mâu Ni Phật đến Ấn Độ thị hiện là lần thứ 8000. Quý vị liền hiểu được Ngài thành Phật bao lâu. Trong Kinh Phạm Võng nói: lần thứ 8000. Còn trong Kinh Pháp Hoa cũng nói như vậy.

 Tiếp theo, 彌陀經義疏 “Mi Đà Kinh Nghĩa Sớ” (Kinh Mi Đà Nghĩa Sớ) của Đại sư Linh Chi, ngài nói trong đó 楞嚴勢至章》云 “Lăng Nghiêm Thế Chí Chương vân” (Chương Đại Thế Chí của Kinh Lăng Nghiêm nói rằng), nêu ra 《楞嚴經.大勢至圓通章》云 “Lăng Nghiêm Kinh – Đại Thế Chí Viên Thông Chương” (Chương Đại Thế Chí Viên Thông trong Kinh Lăng Nghiêm), 我憶往昔恆河沙劫  “ngã ức vãng tích Hằng hà sa kiếp” (con nhớ Hằng hà sa số kiếp về trước), lâu như vậy, cát sông Hằng có bao nhiêu? 有佛出世,名無量光。十二如來相繼一劫 “Hữu Phật xuất thế, danh Vô Lượng Quang. Thập nhị Như Lai tương kế nhất kiếp” (Có Phật xuất thế, tên là Vô Lượng Quang. Mười hai đức Như Lai kế tiếp nhau ra đời trong một kiếp). Ở trong đại kiếp đó có 12 tôn Phật xuất thế. Kiếp này hiện nay của đức Thích Ca Mâu Ni Phật chúng ta, kiếp này cũng là Đại kiếp, trong Đại kiếp này gọi là Hiền kiếp. Vì sao vậy? Bởi đặc biệt nhiều Thánh Hiền, có 1000 Tôn Phật xuất thế. Kiếp này có 1000 Tôn Phật, đức Thích Ca Mâu Ni Phật là vị Phật thứ tư. Sau này thứ năm là đức Di Lặc đến thành Phật. Chúng ta từ chỗ này có thể hiểu được, sau khi thành Phật, ở thế giới mười phương giáo hóa chúng sanh có duyên, thời gian một kiếp dài ngắn không có nhất định. 準大本“Chuẩn Đại bản”  (Y chiếu vào Đại bản), Đại bản chính là Kinh Vô Lượng Thọ. 12 đức Như Lai tiếp nối xuất hiện trong một kiếp chính là A Mi Đà Phật. Ý nghĩa này là nói, (根據《無量壽經》,《楞嚴》中之無量光如來,即阿彌陀佛),今經(指《阿彌陀經》)、大本,皆言十劫。乃是一期赴機之說,不足為疑。 “(Căn cứ Vô Lượng Thọ Kinh, Lăng Nghiêm trung chi Vô Lượng Quang Như Lai, tức A Mi Đà Phật). Kim Kinh, chỉ A Mi Đà Kinh, đại bản giai ngôn thập kiếp. Nãi thị nhất kỳ phó cơ chi thuyết, bất túc vi nghi” ((căn cứ trong Kinh Vô Lượng Thọ, và Kinh Lăng Nghiêm, thì Vô Lượng Quang Như Lai: chính là A Mi Đà Phật). Kinh này, chỉ A Mi Đà Kinh, Đại bản, đều nói mười kiếp. Là cách nói phù hợp với căn cơ một thời, không nên sanh nghi). Chúng ta có lý do để tin điều này. 上為靈芝師引《楞嚴》恆沙劫前有佛名無量光,證明彌陀久已成佛。十劫是權說。“ Thượng vi Linh Chi sư dẫn Lăng Nghiêm: Hằng sa kiếp tiền hữu Phật danh Vô Lượng Quang, chứng minh Mi Đà cửu dĩ thành Phật. Thập kiếp thị quyền thuyết” (Phía trước là Đại sư Linh Chi trích dẫn Kinh Lăng Nghiêm. Hằng hà sa kiếp trước có Phật tên là Vô Lượng Quang, chứng minh đức Mi Đà thành Phật từ lâu. Mười kiếp là nói quyền biến). Mười kiếp này là một lần, một lần hoạt động thị hiện thành Phật đến hiện tại, đó là mười kiếp.

 Tiếp theo phần thứ 3 trích dẫn 箋註 “Tiên Chú” (sách Tiên Chú). Trong Tiên Chú nói: 依真宗 “Y Chân Tông” (Nương theo Chân tông), Chân tông là Mật tông, giáo nghĩa của Mật tông, 則西方之阿彌陀,於胎藏界主證菩提之德,於金剛界主大智慧門。妙觀察智之所成也。然則大日如來成道之年劫,不可說,不可思議。彌陀之成道,亦不可說,不可思議 “tắc Tây Phương chi A Mi Đà, ư Thai Tạng giới chủ chứng Bồ-đề chi Đức, ư Kim Cang giới chủ Đại Trí Huệ môn. Diệu Quán Sát trí chi Sở Thành dã. Nhiên tắc Đại Nhật Như Lai thành đạo chi niên kiếp, bất khả thuyết, bất khả tư nghì. Mi Đà chi thành đạo, diệc bất khả thuyết, bất khả tư nghì” (thì đức A Mi Đà Phật ở Tây Phương, chứng đức Bồ-đề ở nơi chủ của Thế giới Thai Tạng, chứng môn Đại Trí Huệ ở nơi chủ của Thế giới Kim Cang. Là thành tựu của Diệu Quán Sát trí. Nhưng noi theo số kiếp mà đức Đại Nhật Như Lai thành đạo, thì không thể nói, không thể nghĩ bàn. Nên sự thành đạo của đức Mi Đà, cũng không thể nói, không thể nghĩ bàn). Vì sao vậy? Bởi Mật tông nói Đại Nhật Như Lai chính là A Mi Đà Phật. Đây là nói Phật 成佛以來,於今十劫 “Thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp” (thành Phật đến nay, đã được mười kiếp). Chúng ta phải biết chân tướng sự thật này, cũng nên biết Ngài dùng thiện xảo phương tiện để thuyết pháp.

 Chúng ta tiếp tục xem đoạn tiếp theo, 現說法 “Hiện thuyết Pháp” (Thị hiện thuyết pháp).

 【今現在說法。】 “Kim hiện tại thuyết Pháp” (Nay thị hiện đang thuyết pháp).

今現在說法 “Kim hiện tại thuyết Pháp” (Về câu kim hiện tại thuyết pháp), 言今現在,則非過去與未來,直指當下。故云今現在,表阿彌陀佛是現在佛。當下此時正為眾生說法“ngôn kim hiện tại, tắc phi quá khứ dữ vị lai, trực chỉ đương hạ. Cố vân kim hiện tại, biểu A Mi Đà Phật thị hiện tại Phật. Đương hạ thử thời chánh vị chúng sanh thuyết pháp” (nói kim hiện tại, là không phải quá khứ cùng vị lai, mà thẳng chỉ ngay hiện tại. Nên gọi là kim hiện tại, nêu rõ A Mi Đà Phật là vị Phật hiện tại, ngay lúc này đang vì chúng sanh mà thuyết Pháp). Với câu nói này, chúng ta cần phải coi trọng, phải đặc biệt chú ý, vì sao vậy? Bởi hiện nay Phật giáo suy rồi. Suy thế nào? Không có người thuyết pháp nữa. Trong kinh Đại thừa, bộ Kinh nào tôi không nhớ nữa, tôi đã từng xem qua, nói Pháp vận của Phật, [có] Chánh pháp, Tượng pháp, Mạt pháp, cách nói không giống với cách giảng thông thường của chúng ta. Thế nào gọi là Chánh pháp? Có giảng kinh, có nghe kinh, có tu hành, có chứng quả, đó là Chánh pháp. Cách nói như vậy. Còn Tượng pháp thì sao? Có giảng kinh, có nghe kinh, có tu hành, nhưng không có chứng quả, đó là Tượng pháp. Vậy còn Mạt pháp? Mạt pháp là có giảng kinh, có nghe kinh, không có người tu hành, cũng không có người chứng quả, gọi là Mạt pháp. Diệt pháp thì sao? Không có giảng kinh, cũng không có nghe kinh, tu hành, chứng quả đương nhiên lại càng không cần nói nữa. Đó gọi là Diệt pháp. Quý vị xem giảng bốn thời kỳ, Chánh pháp, Tượng pháp, Mạt pháp, Diệt pháp, nói được rất rõ! Vậy thì chúng ta xem hiện tại chúng ta, Tịnh Độ tông ngày nay là Chánh pháp. Tại vì sao? Bởi có giảng kinh, có nghe kinh, có niệm Phật, có người chân chánh niệm Phật vãng sanh, đây chính là Chánh pháp. Tông phái khác đều có vấn đề rồi, tông phái khác hiện tại phần nhiều không có người giảng kinh, nghe kinh nữa, không có thì diệt rồi. Nếu chúng ta sống ở thời đại này, mà giúp Phật Pháp hưng vượng trở lại, vậy thì công đức này vô lượng vô biên, thật sự là tiếp nối Huệ mạng Phật, phổ độ chúng sanh. Làm thế nào hồi phục? Giảng kinh, học theo Phật, 今現在說法 “kim hiện tại thuyết Pháp” (nay thị hiện đang thuyết pháp). Tất cả chư Phật Như Lai ở mười phương thế giới, thời gian trụ thế, không có ngày nào mà không thuyết Pháp, không có nghe nói trong một ngày nào đó gián đoạn thuyết Pháp, không có. Cho nên 今現在說法“kim hiện tại thuyết Pháp”, câu này rất quan trọng. Có thuyết, có nghe, có thật tu hành, có thật vãng sanh. Đây là Chánh pháp, phù hợp với tiêu chuẩn mà đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói.

Giảng kinh khó hay không? Không khó, chỉ cần quý vị bằng lòng phát tâm, thì có Tam Bảo gia trì, có Long Thiên ủng hộ. Giảng kinh không phải là một việc dễ dàng, thời xưa không có Đại triệt Đại ngộ thì không thể giảng kinh, không thể chú sớ, làm chú giải cho kinh cũng không được, nhất định là người Đại triệt Đại ngộ, Minh tâm Kiến tánh mới được. Ngộ có ba bậc: Tiểu ngộ, Đại ngộ, Triệt ngộ. Triệt ngộ giảng kinh sẽ không có sai lầm, chú giải cũng không có sai lầm, đáng tin cậy. Khi tôi còn trẻ mới bắt đầu học Phật. Chúng tôi không dám phát tâm ra giảng kinh. Giảng kinh nói dễ dàng sao? Lão sư Lý nói với chúng tôi, lúc đó ngài đã mở một lớp học kinh, đồng học có hai mấy người, khuyên chúng tôi nên phát tâm giảng kinh, vậy giảng sai rồi thì phải làm sao? Cổ nhân có nói 錯下一個字轉語,墮五百世野狐身 “thác hạ nhất cá tự chuyển ngữ, đọa ngũ bá thế dã hồ thân” (sai một chữ chuyển ngữ, đọa 500 đời thân chồn hoang), nhân quả này ai gánh? Sợ đến không dám phát tâm. Thầy nói không phát tâm thì không được, phát tâm cũng không được. Không phát tâm thì Phật pháp diệt mất, diệt ở thời kỳ nào? Diệt ở thời kỳ này của chúng ta, chúng ta phải đảm nhận trách nhiệm sự diệt vong của Phật pháp. Vậy bây giờ làm thế nào? Khích lệ chúng tôi học giảng kinh. Thầy nói với chúng tôi, chúng ta giảng chú giải, không phải giảng kinh, vậy thì đúng rồi. Giảng chú giải của người nào? Giảng chú giải của cổ nhân. Tại sao vậy? Bởi cổ nhân đều khai ngộ rồi, giảng chú giải của cổ nhân.

  Nếu như chọn được một bộ, thì trước tiên đọc (đây cũng là phương pháp thầy Lý truyền cho chúng tôi), ở thời kỳ Mạt pháp, chúng ta học kinh giáo, trước tiên phải đọc bộ kinh ấy được 3.000 biến. Nếu chúng ta học Kinh Vô Lượng Thọ, học bản hội tập, thì đọc ba ngàn biến bản hội tập. Ba ngàn biến này là gì? Không cầu giải nghĩa, chỉ là cứ đọc, không cần cầu giải, không được đọc sai chữ, không được bỏ sót, chỉ cần cầu trình độ này. Sau khi niệm được ba ngàn biến, thì niệm Phật Tam-muội hiện tiền, là dùng phương pháp đọc kinh để tu Tam-muội, chính là tu Định. Phương pháp này chính là Giới. Bảo quý vị đọc 3.000 biến, đây là thuộc về Giới, quý vị liền trì giới. Đọc được 3.000 biến. Sau khi đọc được 3.000 biến, thì tâm định rồi, tâm thanh tịnh hiện tiền, tâm thanh tịnh sinh trí huệ. Cho nên cổ nhân giảng: 讀書千遍,其義自見 “Độc thư thiên biến, kỳ nghĩa tự kiến ” (Đọc sách ngàn lần, tự hiểu nghĩa kia), tự kiến chính là khai ngộ, dùng phương pháp này. 3.000 biến, mà tâm thanh tịnh chưa hiện tiền, thì 4.000 biến, 4.000 biến mà chưa hiện tiền, thì 5.000 biến, nhất định phải niệm đến tâm thanh tịnh hiện tiền, chính là trong tâm không có vọng niệm, liền khai ngộ. Ngộ, có Tiểu ngộ, có Đại ngộ, có Triệt ngộ. Tiểu ngộ thì rất triển vọng, giáo hóa chúng sanh thời nay thì đó là quá đủ, là có trí huệ, có Tiểu ngộ. Quý vị nhất định xem hiểu những chú giải ấy của cổ nhân, quý vị có Tiểu ngộ. Nếu quý vị không có cơ sở này thì xem không hiểu. Không chỉ quý vị xem hiểu bộ Kinh này, mà quý vị đều xem hiểu toàn bộ tất cả kinh luận, ngộ rồi liền có chỗ tốt như thế. Tiểu ngộ nâng lên chính là Đại ngộ, Đại ngộ nâng lên chính là Triệt ngộ. Tiểu ngộ là thông một bộ kinh, đại ngộ là thông tất cả kinh, cũng có người nói chính là thông một tông, nói tôi thông Tịnh Độ tông, cùng có liên quan với Tịnh Độ tông, đều có thể xem hiểu được, đều không có chướng ngại. Vậy cũng giảng được rất tốt, cũng tính là Đại ngộ.

 Ngày nay trong thời đại này, Thiện tri thức đều đi rồi, chúng ta dựa vào ai? Dựa vào sự dạy dỗ của Tổ sư Đại đức. 讀書千遍,其義自見 “Độc thư thiên biến, kỳ nghĩa tự kiến ” (Đọc sách ngàn lần, tự hiểu nghĩa kia), 一門深入,長時薰修 “Nhất môn thâm nhập, trường thời huân tu” (thâm nhập một môn, huân tu lâu dài). Ngàn vạn lần nhớ kỹ, một môn, không thể nhiều, nhiều thì hỏng rồi. Nhiều là tạp, là loạn, là không thông. Một môn sẽ thông, một môn thật sự thông rồi, sẽ hoàn toàn thông tất cả kinh, một thông tất cả thông. Đại sư Lục tổ Huệ Năng thông rồi, ngài hoàn toàn là dựa vào Tam-muội, thế nào gọi là Tam-muội, chúng ta phải làm cho rõ ràng, làm cho sáng tỏ điều đó. 84.000 Pháp môn, con đường khác nhau, phương pháp khác nhau, nhưng kết quả mong cầu là giống nhau, tất cả đều là đắc định. Cũng chính là có 84.000 phương pháp tu Thiền định khác nhau, tầng lớp tri thức là đa số, tầng lớp tri thức chính là dùng phương pháp đọc kinh để tu Thiền định. Người ấy không phải là đang đọc kinh, cũng không phải là đang đọc thuộc lòng, không cần đọc thuộc lòng, số biến nhiều rồi tự nhiên có thể thuộc, cho nên đọc thuộc rồi là tác dụng thêm, mục đích là gì? Mục đích là đắc Tam-muội, niệm cho sạch vọng tưởng, niệm cho sạch tạp niệm, niệm bỏ đi Phân biệt Chấp trước, thì tâm liền thanh tịnh rồi, tâm thanh tịnh hiện tiền liền sinh trí huệ, là cảnh giới nào? Cảnh giới của A-la-hán, chính là đoạn Kiến tư phiền não rồi. Tam-muội ấy có thể giúp quý vị đoạn Kiến tư phiền não, giống như trí huệ của A-la-hán, thần thông liền hiện tiền. Lại hướng lên cao, không phân biệt, không phân biệt là đoạn Trần sa hoặc, không chấp trước là đoạn Kiến tư hoặc, đoạn Kiến tư hoặc là A-la-hán, đoạn Trần sa hoặc là Bích-chi-phật. Biệt giáo Tam hiền Bồ-tát: đều là ở thứ lớp này, đoạn Trần sa Phiền não, đoạn hết Trần sa Phiền não rồi, chính là đại Bồ-tát, đoạn Vô minh Phiền não. Chúng ta giảng Quyền giáo, Thật giáo, vậy thì không phải là Quyền giáo, mà là Thật giáo. Biệt giáo là Sơ địa, Viên giáo là Sơ trụ trở lên. Bồ-tát Sơ trụ phá một phẩm Vô minh, chứng một phần Pháp thân, đó là Đại triệt Đại ngộ, Minh tâm Kiến tánh, Kiến tánh thành Phật. Phật ở đây là Phần chứng Phật, không phải giả, là Phần chứng Phật. Người ấy chưa chứng đắc viên mãn, nguyên nhân đó là gì? Bởi chưa đoạn Tập khí Vô thỉ Vô minh, Vô thỉ Vô minh là không khởi tâm không động niệm, mắt thấy sắc nhìn được rõ ràng, tai nghe âm thanh được rõ ràng, rất rõ ràng, rất tường tận, nhưng không có khởi tâm động niệm. Phàm phu làm thế nào? Phàm phu lúc vừa tiếp xúc, họ liền khởi tâm động niệm. Tiếp theo liền phân biệt chấp trước, đây chính là phàm phu trong lục đạo. Pháp thân Bồ-tát đột phá được! Sáu căn của các ngài tiếp xúc cảnh giới sáu trần, đều không khởi tâm, không động niệm.

  Có phương pháp đoạn Tập khí Kiến tư Phiền não, cũng có phương pháp đoạn tập khí Trần sa Phiền não. Còn tập khí Vô thỉ Vô minh Phiền não thì không có cách đoạn, nếu quý vị có biện pháp thì liền khởi tâm động niệm. Vậy biện pháp để đoạn là gì? Trong kinh có ví dụ, giống như bình rượu, bình để đựng rượu, rượu đổ hết rồi, lau rửa sạch sẽ, thật sự không được, ngửi vẫn còn mùi rượu. Làm thế nào với mùi rượu này? Đem nắp bình mở ra để đó, để nửa năm, để một năm, lại đi ngửi thì không còn nữa, tức đoạn rồi. Trong kinh nói với chúng ta, Tập khí Vô thỉ Vô minh của Pháp thân Bồ-tát cần bao nhiêu lâu mới có thể đoạn hết được? Từ ngày bắt đầu phá Vô minh, là ba A-tăng-kỳ kiếp. Các vị Bồ-tát đó trụ ở đâu? Trụ ở Thật Báo Trang Nghiêm Độ. Ở đó, có thể nhìn thấy Báo thân của chư Phật Như Lai. Nhìn thấy Báo thân, Báo thân là chuyên để giúp đỡ: những hàng Bồ-tát cấp bậc ấy tu hành. Khi đoạn hết rồi, quý vị xem bậc Đẳng giác, bậc Đẳng giác vẫn còn một phẩm cuối cùng, chưa đoạn một phẩm cuối cùng Tập khí Sanh tướng Vô minh, vậy đoạn một phẩm đó rồi, ngài liền nhập Thường Tịch Quang. Thường Tịch Quang là Diệu Giác, chính là Chân chánh Vô thượng Bồ-đề, không có gì ở trên ngài nữa, ở phía trên không còn nữa.

 Chúng ta dụng công, công phu dùng ở đâu? Dùng ở cảnh giới sáu trần mà sáu căn tiếp xúc. Là luyện điều gì? Luyện không phân biệt, không chấp trước, rất rõ ràng, rất sáng tỏ. Không khởi phân biệt chấp trước, đây chính là Quyền giáo Bồ-tát, đây là bắt đầu tu của Đại thừa. Chúng ta làm không được: Không khởi tâm không động niệm, đến khi nào mới có thể làm được? Trong Đại thừa giáo thường giảng Bát địa trở lên. Tại vì sao? Bởi khởi tâm động niệm quá vi tế. Bồ-tát Di Lặc bảo với chúng ta, một khảy móng tay, có 32 ức trăm ngàn niệm. Niệm này chính là khởi tâm động niệm. Một khảy móng tay, có 32 ức trăm ngàn, 32 ức nhân với 100 nghìn, 100 nghìn là 10 vạn, nhân 10 vạn. Thành 320 ngàn tỉ. Đây là một khảy móng tay, 320 ngàn tỉ ý niệm vi tế (khởi tâm động niệm), chúng ta làm sao biết được? Thất địa Bồ-tát đều không biết, đến Bát địa Bồ-tát mới nhìn thấy, mới rõ ràng. Cho nên hướng lên trên, Bát địa, Cửu địa, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác, 5 vị thứ này hoàn toàn rõ ràng, các ngài đoạn được tất cả rồi. Nói cách khác, bậc Thất địa trở về trước vẫn còn khởi tâm động niệm, không có phân biệt chấp trước, quý vị nói tâm các ngài Thanh tịnh biết bao.

 Tiêu chuẩn tu hành chính ở đề Kinh, Thanh văn, Duyên giác tu tâm Thanh tịnh; Quyền giáo Bồ-tát, Tam hiền của Biệt giáo tu tâm Bình đẳng. Đại ngộ, không phải Triệt ngộ, sự Giác sau này của là Triệt ngộ, Thanh tịnh Bình đẳng Giác, Giác là Triệt ngộ, Giác là Pháp thân Bồ-tát, cũng chính là Bồ-tát Minh tâm Kiến tánh. Tiêu chuẩn ở đề Kinh, công phu của chúng ta tu hành đắc lực hay không? Chúng ta đem tiêu chuẩn này mở ra, đối chiếu một chút. Mức độ Thanh tịnh của tâm chúng ta là bao nhiêu? Năm nay có phải Thanh tịnh hơn năm ngoái không? Tháng này có phải là Thanh tịnh hơn tháng trước không? Phải thường xuyên kiểm điểm, kiểm tra công phu của chính mình, đắc lực hay không? Đắc lực, hoan hỉ, khi không đắc lực, vậy cần phải nghĩ phương pháp. Phương pháp là gì? Phương pháp chính là Giới luật. Giới luật này không phải là Giới luật thông thường. Giới luật thông thường đó là tiếp dẫn chúng sanh. Trước kia tôi học Phật với Đại sư Chương Gia, Đại sư Chương Gia nói với tôi, Phật pháp trọng thực chất chứ không trọng hình thức. Hình thức quan trọng hay không? Hình thức cũng quan trọng, hình thức là biểu diễn cho người ngoài xem, giống như sân khấu diễn kịch, không phải vì chính mình, là để người khác xem. Dụng ý này rất sâu, vì tất cả chúng sanh mà làm ảnh hưởng chúng, làm một tấm gương tốt, là ý nghĩa này. Thực chất là như thế nào? Thực chất là chính mình thật sự có công phu, điều này quan trọng. Thật sự tâm địa thanh tịnh, không có tạp niệm, không có vọng tưởng, đây là công phu chân thật. Chúng ta dùng phương pháp niệm Phật này tu thành công, chính gọi là Niệm Phật Tam-muội. Nếu quý vị niệm Kinh Hoa Nghiêm, thì gọi là Hoa Nghiêm Tam-muội. Tên gọi khác nhau chính là cách thức tu khác nhau. Nhưng kết quả đạt được thì giống nhau, Tam-muội không có hai cách thức, hoàn toàn giống nhau. Điều này quan trọng.

Chúng ta đối với kinh giáo, hiện tại 8 tông đều không còn nữa, bây giờ Tịnh Độ gượng gạo, chúng ta vẫn còn, giữ lại được một chút. Tông khác đều không còn nữa, không có người học Hoa Nghiêm, cũng không có người học Pháp Hoa, 40 năm trước, ở Hồng Kông, vẫn còn có một số lão Hòa thượng thông Giáo, lão Pháp sư Đàm Hư lập ra Viện học Phật, Viện học Phật Hoa Nam giảng tông Thiên Thai. Vẫn có lão Hòa thượng Hải Nhân, ngài hơn 90 tuổi, truyền Kinh Lăng Nghiêm, ngài cả đời chuyên công Lăng Nghiêm, đương thời mọi người tôn xưng ngài là vua Thủ Lăng Nghiêm, ngài chỉ có 6 đồ đệ, học trò chỉ có 6 người. Làm học trò của ngài, phải học thuộc Kinh Lăng Nghiêm, cũng phải học chú giải, thuộc cả kinh và chú giải, ngài mới thu nhận quý vị làm học trò, cho nên lúc đó chỉ có 6 người. Bây giờ đều không còn nữa. Thiền tông có Pháp sư Thánh Nhất, đạo tràng mỗi ngày ngồi thiền, tôi từng đến đạo tràng của ngài ấy để tham quan, thấy được có hơn 40 vị học, họ thật sự làm. 40 năm rồi, hiện tại không còn nữa. Học trò Viện học Phật của lão Pháp Sư Đàm Hư, tôi biết không quá mười mấy người, rất nhuần nhuyễn, đều có thể giảng, có người học Pháp Tướng, Duy Thức, Thiên Thai là khóa trình chủ tu các ngài. Học Bát-nhã, học Tam Luận tông, hiện nay đều không còn. Tôi không có nghe thấy một Pháp sư trẻ tuổi nào chân chánh phát tâm chuyên nghiên cứu một bộ kinh luận.

 Không có người thì phải làm thế nào? Chúng ta dùng sự dạy dỗ của Tổ sư Đại đức: thâm nhập một môn, huân tu lâu dài, đọc sách ngàn biến, tự hiểu nghĩa của sách. Tôi biết có một vị trong hàng Cư sĩ, Cư sĩ Hồ Tiểu Lâm, ông ấy dùng khoảng 6 năm chuyên chú Đại Thừa Khởi Tín Luận. Với Đại Thừa Khởi Tín Luận, đại khái ở thời đại hiện nay, bất luận xuất gia hay tại gia, có thể nói không có người nào có thể so sánh với ông ấy, quán thông, giảng thật sự rất hay. Không có thầy dạy, xem chú giải của cổ Đại đức, xem không hiểu chú giải của cổ Đại đức, vì quá sâu, thì xem chú giải hiện đại, đầu năm Dân quốc có một số vị Pháp sư chú giải rất hay, là Văn Ngôn Văn rất cạn và rõ ràng. Đọc, trước tiên là đọc, khi hoàn toàn thành thục rồi thì ý nghĩa liền hiện ra. Độc thư thiên biến, kỳ nghĩa tự kiến. Biến số càng nhiều khế nhập càng sâu, giải được càng thấu triệt, sau khi đọc được 1.000 biến, thì hiểu rõ được không ít, lại đọc 1.000 biến thì phát hiện, ở trong đó có một số nghĩa lý tinh diệu. Chỉ cần có công phu sâu, Tam Bảo gia trì, thật gia trì thêm thì được. Không có công phu chân thật thì không được Phật lực gia trì, có công phu chân thật nhất định được Tam Bảo gia trì. Pháp sư giảng kinh đều có kinh nghiệm này, lúc giảng kinh, cần chuẩn bị bài giảng, mất rất nhiều thời gian, sau khi lên đài khai giảng, dường như cũng không dùng đến câu chuẩn bị nào, cũng không biết tại sao xuất hiện ý nghĩa, giảng được rất trôi chảy, chính mình cũng rất hoan hỉ. Đó chính là gì? Phật lực gia trì. Tình huống này rất nhiều, mỗi Pháp sư giảng kinh đều có, không phải là giả.

 Nhất định phải phát tâm. Thời xưa, Sư phụ truyền Đệ tử là truyền một, hai người, bởi vì không có nghe nói mở viện Phật Học. Học trò học thế nào? Học trò chính là nghe thầy giảng kinh, ví dụ thầy giảng Kinh Vô Lượng Thọ, tại giảng đường, đại khái ở chỗ ngồi đầu tiên, ngồi ở hàng thứ nhất đều là học trò học giảng kinh, hàng xuất gia, hay tại gia đều có thể. Chỉ cần quý vị học giảng bộ Kinh này, quý vị ngồi ở phía trước, cẩn thận lắng nghe. Nghe xong rồi làm thế nào? Phúc giảng. Phúc giảng có quy củ, không thể thêm bớt, không thể thêm vào ý của chính mình, hoàn toàn là những gì của thầy giảng ra, thiếu sót cũng không sao, chính mình không được thêm bớt. Đó là phương thức phúc giảng. Ngài A Nan truyền đến ngày nay. Chư vị nghĩ xem, ban đầu kết tập Kinh tạng, ngài A Nan thay Phật giảng lại Kinh điển một lần, có 500 vị A-la-hán làm chứng. Thính chúng là 500 vị A-la-hán, các ngài nghe xong đều gật đầu, mới ghi chép lại thành Kinh điển. Nếu có một người nói: A Nan, không được! Tôi hình như chưa từng nghe qua điều này, thì lược bỏ đi. Cho nên 500 vị A-la-hán không có ai phản đối, mới có thể ghi lại, lấy tín nhiệm với đời sau. Kết tập Kinh tạng vô cùng nghiêm túc, không phải thiểu số phục tùng đa số, không phải vậy, nếu một người không thông qua thì đều phải xóa bỏ. Cho nên kinh Phật đáng tin, đáng để tin tưởng, không nên hoài nghi.

 Chúng ta đọc đến câu kinh văn này, cần khích lệ chính mình, tôi phải học, phải báo ân Phật. Chân chánh phát tâm học Giáo, mong báo ân Phật, thì Phật sẽ gia trì, sẽ gia trì rất rõ ràng cho quý vị. Đây là ‘kim hiện tại’. 表阿彌陀佛是現在佛,當下此時正為眾生說法,故應發願往生  “Biểu A Mi Đà Phật thị kim hiện tại Phật, đương hạ thử thời chánh vị chúng sanh thuyết Pháp, cố ưng phát nguyện vãng sanh” (Nêu rõ A Mi Đà Phật là đức Phật hiện tại, ngay lúc này đang vì chúng sanh mà thuyết Pháp, phải nên phát nguyện vãng sanh). Tôi giảng Tịnh Độ cũng được mấy năm rồi, tôi có thể hội rất sâu sắc, điều này người xưa chưa từng nói qua. Tôi thể hội đến mức nào? Vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc, hoa khai kiến Phật, lúc hoa chưa nở, 48 nguyện của A Mi Đà Phật là sự gia trì của vô lượng công đức, giúp đỡ chúng ta, đại ân đã giúp đỡ, thế nào là đại ân? Giúp chúng ta chuyển Thức thành Trí, chuyển Phàm thành Thánh. Thân thể ở Thế giới Ta Bà của chúng ta, bỏ đi thân vật chất rồi, lúc vãng sanh, quý vị dứt hơi thở rồi, ngừng hô hấp rồi, lúc đó quý vị ngồi lên đài sen. A Mi Đà Phật là cầm Hoa Sen đến tiếp dẫn quý vị, Hoa Sen này là do công phu niệm Phật của quý vị mà thành tựu. Trên đó có tên của quý vị. Khi quý vị ngồi ở giữa Hoa Sen, lúc ấy Hoa Sen liền đóng lại, Phật liền đem Hoa Sen đó, mang về Thế giới Cực Lạc, đặt vào ao Thất Bảo. Chờ đợi điều gì? Chờ đợi quý vị hoàn toàn thay đổi, ở trong Hoa Sen gọi là Liên thai, trong đó nuôi dưỡng giống như bào thai, thành tựu thân thể cho quý vị. Đó không phải là nhục thân, mà là thân Pháp tánh. Cho nên Hoa Sen nở, quý vị liền gặp được A Mi Đà Phật, lúc ấy thân tướng được hiện ra, giống với thân của A Mi Đà Phật. Thân của Phật là tử ma chân kim sắc thân, đầy đủ 84 ngàn tướng, mỗi tướng có 84 ngàn vẻ đẹp, mỗi mỗi phát ra 84 ngàn ánh sáng. Trong ánh sáng đó đều thấy được mười phương chư Phật Bồ-tát, ở trong đó giảng kinh dạy học hóa độ chúng sanh, vô cùng thù thắng trang nghiêm. Quý vị rời khỏi Hoa Sen, tiến vào giảng đường, A Mi Đà Phật nay thị hiện đang thuyết Pháp. Giảng đường có chỗ ngồi của quý vị, trên Hoa Sen có tên của quý vị, trên chỗ ngồi của giảng đường cũng có tên của quý vị, ngồi vào chỗ của mình.

 Tôi có được một chút thể hội là gì? Lúc tiến vào giảng đường là phàm phu, chúng ta vãng sanh đều là Phàm Thánh Đồng Cư độ. Chưa có công phu gì? Khi nào có thể rời khỏi giảng đường? Thành Phật liền rời khỏi. Chưa có Đại triệt Đại ngộ, Minh tâm Kiến tánh, chứng đắc rốt ráo Vô thượng Bồ-đề, thì chưa rời khỏi chỗ ngồi, tuyệt diệu không thể tả. Thời gian dài hay ngắn, Thế giới Cực Lạc không có thời gian, không có không gian, nhất định là khi chứng đắc Vô thượng Bồ-đề, quý vị sẽ rời khỏi chỗ ngồi, rời khỏi giảng đường, học xong rồi, thì [mở] một lớp. Thế là chúng ta có thể hiểu được. Khi tương lai Bồ-tát Di Lặc hạ sanh, ngài chỉ có ba hội Long Hoa, A Mi Đà Phật không cần ba hội, chỉ một hội, tuyệt diệu không thể tả! Tại vì sao? Bởi Thế giới Cực Lạc là thân Pháp tánh, không phải nhục thân, các ngài không cần phải ngủ. Thế giới Cực Lạc không có mặt trời mặt trăng vì sao thiên thể, tất cả ở đó, chúng ta giảng vật chất. Ví như nói là tất cả vật chất đều phóng quang, thân người phóng quang, cây phóng quang, cây cối hoa cỏ đều phóng quang, không có loại nào mà không phóng quang, cung điện cũng phóng quang, thế giới quang minh, quang minh ở đó không cần mặt trời mặt trăng vì sao thiên thể. Các ngài không cần ăn uống, cũng không có đại tiểu tiện, cho nên ở nơi đó vừa ngồi thì có thể từ phàm phu ngồi vào thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Quý vị nói xem nơi ấy có thể không đến sao? Nếu không đến nơi đó thì quá đáng tiếc rồi, vậy thật là oan uổng! Huống hồ Phật giảng cho chúng ta, giảng rất rõ ràng, giảng rất sáng tỏ. Chính chúng ta cũng tận mắt nhìn thấy, cũng tận mắt xem thấy. Ở thời đại hiện nay, xã hội động loạn, ô nhiễm nghiêm trọng, trái đất tai nạn triền miên. Hoàn toàn trái ngược với Thế giới Cực Lạc, quý vị là đồng ý sống ở đây, hay là bằng lòng đến nơi đó? Tôi nói với mọi người, tôi chỉ mong sao hiện giờ liền đi, mà Phật không đến tiếp dẫn, tôi không còn cách nào, tôi mỗi ngày đợi Ngài, thế nào cũng có một ngày đợi được Ngài đến. Không đáng để lưu luyến nữa, nhất tâm nhất ý hướng đến Thế giới Tây Phương Cực Lạc.

 Sống ở nơi này sống một ngày thì làm một ngày cho tốt, sống hai ngày thì làm hai ngài cho tốt, giống như lão Hòa thượng Hải Hiền. Giao hẹn với đức Phật, đức Phật là Bổn sư của chúng ta, sống ở thế giới này một ngày, làm biểu pháp một ngày, làm tấm gương tốt. Làm tấm gương tốt như thế nào? Tấm gương niệm Phật tu Tịnh Độ, yêu cầu Phật hiệu của chính mình không gián đoạn, một câu tiếp nối một câu, miệng không niệm nhưng tâm niệm, buông xuống vạn duyên. Nay xem thấy Phật giáo suy rồi, chúng ta học ít nhất môt bộ kinh luận, đảm nhiệm công việc truyền Pháp. Kinh luận ở trong Đại Tạng Kinh, tôi học một bộ, tôi cũng chuyên giảng một bộ, cũng chuyên truyền một bộ, tôi dạy bộ này. Giống như vị Hồ Tiểu Lâm, tôi khuyên ông ấy cả đời chuyên giảng Đại Thừa Khởi Tín Luận, chuyên tu Đại Thừa Khởi Tín Luận, ông ấy niệm Phật. Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là Thế giới Tây Phương Cực Lạc, thân cận A Mi Đà Phật, ở thế giới này tôi có một thứ, tôi không làm Phật Bồ-tát thất vọng, 84.000 Pháp môn của quý vị, cuối cùng tôi đã truyền một Pháp môn. Truyền Kinh Vô Lượng Thọ cũng được, truyền Kinh A Mi Đà cũng được, Tịnh Độ hiện nay là năm kinh một luận, Phẩm Hạnh Nguyện cũng được. Lúc trước, Đại sư Hoằng Nhất cũng là chuyên tu Phẩm Hạnh Nguyện, thời khóa sớm tối của ngài là Phẩm Hạnh Nguyện, ngài có thể thuộc lòng Phẩm Hạnh Nguyện. Phân lượng ít nhất, là Chương Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông, cũng là một Pháp môn. Thời vua Càn Long, Pháp sư Từ Vân Quán Đảnh, đã làm một Chú giải, làm rất hay, gọi là Sớ Sao, Đại Thế Chí Viên Thông Chương Sớ Sao. Trước đây tôi từng giảng Chương Viên Thông, chính là chọn dùng Sớ Sao của Đại sư Quán Đảnh, giảng rất chi tiết. Học một môn, báo ân Phật, phải học kim hiện tại thuyết Pháp, phải học câu này.

Cho nên đây là Niệm lão khuyên chúng ta, 故應發願往生 “cố ưng phát nguyện vãng sanh” (nên phải phát nguyện vãng sanh). Vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc, thân cận A Mi Đà Phật, đó chân thật là Đệ tử truyền thừa chính thống của A Mi Đà Phật. Thế giới Tây Phương Cực Lạc là một giảng đường lớn của A Mi Đà Phật, tôi muốn học Kinh Vô Lượng Thọ. Tôi nghe Phật giảng kinh thì mỗi câu chính là Kinh Vô Lượng Thọ. Quý vị thích Kinh Pháp Hoa, quý vị ngồi ở bên cạnh, nhưng quý vị nghe được chính là Kinh Pháp Hoa, một chút cũng không sai, Phật dùng một âm thanh mà thuyết Pháp, chúng sanh tùy loại đều giải được. Cho nên ở đó Phật có thể dùng một âm thanh mà tuyên thuyết 84.000 Pháp môn, mỗi người nghe đều là Pháp khác nhau, tuyệt diệu vô cùng! Pháp môn là bình đẳng, người người đều thành Vô thượng đạo, không có gì có thể sánh với điều tuyệt diệu này. Với lại Tịnh Độ vô cùng dễ dàng vãng sanh, quý vị xem 48 nguyện, đặc biệt nguyện thứ 18, Ngũ nghịch Thập ác, chân chánh sám hối, sau không còn tái tạo, đều có thể cảm được A Mi Đà Phật đến tiếp dẫn quý vị, thật tuyệt vời! Chỉ sợ quý vị không bằng lòng quay đầu, bằng lòng quay đầu, sẽ tiếp dẫn tất cả. Pháp môn này vô cùng vĩ đại, thật sự tìm không được môn thứ hai có thể so sánh được với Pháp môn này. Chúng ta cần làm cho rõ ràng, nhận thức rõ ràng, làm sáng tỏ rồi, sẽ quyết trọn một lòng, nhất định không thay đổi phương hướng. Thành tựu một môn này, chính là sự thành tựu viên mãn của vô lượng Pháp môn. 依法修行,速補佛位 “Y Pháp tu hành, tốc bổ Phật vị“ (Nương theo Pháp để tu hành, nhanh chóng nhậm địa vị Phật). Nhậm địa vị Phật chính là ở Thế giới Cực Lạc, chứng đắc địa vị Bổ xứ Bồ-tát, duyên ở thế giới nào chín muồi, thì quý vị có điều kiện đến nơi đó thị hiện tám tướng thành đạo, dùng thân phận Phật giáo hóa chúng sanh, quý vị liền có thể đến thế gian đó nhậm địa vị Phật. Giống như Bồ-tát Di Lặc hiện tại ở trời Đâu Suất. Đương lai hạ sanh nhậm địa vị của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là vị Tôn Phật thứ năm trong Hiền Kiếp.

 Tiếp theo chúng ta cùng xem phần phía sau: 又彭際清居士曰 “Hựu Bành Tế Thanh Cư sĩ viết” (Thêm nữa Cư sĩ Bành Tế Thanh nói rằng), đây là một vị Đại đức, thông Tông thông Giáo, Hiển Mật viên dung, sinh ra vào thời đại Càn Long đời nhà Thanh, ngài vô cùng thông minh, là Đồng tử, Đồng tử ngày xưa là chưa tròn 20 tuổi. Tròn 20 tuổi là trưởng thành, chưa đầy 20 tuổi gọi là Đồng tử. Ngài là thân phận Đồng tử thi đậu học vị Tiến sĩ, thời đại đó học vị Tiến sĩ là cao nhất, chính là nói rõ, 18 -19 tuổi đã đỗ kỳ thi Tiến sĩ, nhưng cả đời không làm quan, có duyên với Phật và Đạo. Cha của ngài là Thượng thư Bộ binh của Hoàng đế Càn Long, Thượng thư Bộ binh, tương đương với Bộ trưởng Quốc phòng bây giờ, chính là con em cán bộ cao cấp. Vì ngài không cần lo cuộc sống, cho nên ngài không đồng ý làm quan, cùng người xuất gia, cùng các đạo sĩ ở cùng một chỗ, đối với Nho Thích Đạo đều tinh thông. Với Kinh Vô Lượng Thọ, ngài có làm chú giải gọi là Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận. Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận chính là do ngài trước tác. Ngài nói 不唯爾時名為現在 “Bất duy nhĩ thời danh vi hiện tại” (không chỉ lúc bấy giờ gọi là hiện tại). Không chỉ nói lúc đó, phía trước nói, lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết Pháp, nay hiện tại thuyết Pháp, gọi là hiện tại. 乃至於今 “Nãi chí ư kim” ( Mà cho đến ngày nay), hôm nay chúng ta ở đây đọc bộ Kinh này, A Mi Đà Phật hiện nay thị hiện đang thuyết Pháp, đều gọi là hiện tại, vĩnh viễn là hiện tại. Tại vì sao? Bởi Phật Vô Lượng Thọ, mọi nơi, mọi lúc đều có thể cảm ứng được A Mi Đà Phật kim hiện tại thuyết Pháp. 故知此非三世遷流之現在  “Cố tri thử phi tam thế thiên lưu chi hiện tại“ (Nên biết đây không phải hiện tại của dời chuyển trong ba đời). Ba đời là quá khứ, hiện tại, vị lai, không phải vậy, đó không thuộc về ba đời, đó vĩnh viễn là hiện tại. Cần hiểu ý nghĩa này. Đó là không có quá khứ, cũng không có vị lai, vĩnh viễn là hiện tại. 而言後後無量,直是常住,故永稱現在 “Nhi ngôn hậu hậu Vô Lượng, trực thị thường trụ, cố vĩnh xưng hiện tại“ (Nên sau nói vô lượng về sau, mãi là thường trụ, cho nên mãi mãi gọi là hiện tại). Cho nên gọi là thường trụ, hiện tại thường trụ, vĩnh viễn là hiện tại, không có vị lai. Cách nghĩ của tôi cũng có căn cứ, tìm được chứng cứ, cho nên tôi muốn vào giảng đường, hiện tại tiến vào giảng đường, đến khi tốt nghiệp mới rời khỏi giảng đường, không tốt nghiệp nhất định không rời khỏi giảng đường. Hơn nữa hoàn toàn thanh tịnh rồi, không phải nói Đại triệt Đại ngộ, Minh tâm Kiến tánh liền rời khỏi, không phải, còn phải đoạn sạch tập khí Vô thỉ Vô minh. Tập khí đó thông thường cần ba a-tăng-kỳ kiếp, ở giảng đường của A Mi Đà Phật đại khái không cần lâu vậy. Tại vì sao? Bởi uy thần của A Mi Đà Phật gia trì, tất cả ở hiện tại, không có quá khứ, không có vị lai, cho nên thật sự là thường trụ.

且無論今後若干久遠時劫 “Thả vô luận kim hậu nhược can cửu viễn thời kiếp”(Hơn nữa bất kể hiện nay hay sau này bao nhiêu thời kiếp lâu xa). Điều này giảng, từ nay về sau ngàn năm vạn đời của chúng ta, cho đến Vô lượng kiếp về sau, 凡有人讀到今現在說法,則正指此時此刻 “Phàm hữu nhân độc đáo kim hiện tại thuyết pháp, tắc chánh chỉ thời thử khắc” (hễ có người đọc đến nay thị hiện đang thuyết Pháp, chính đang chỉ ngay thời khắc đó). Nói cách khác, Ngài chỉ có hiện tại, Ngài không có quá khứ, Ngài không có vị lai. Nhiều năm trước gặp A Mi Đà Phật là hiện tại, bây giờ chúng ta gặp Ngài cũng là hiện tại, người nhiều năm sau này gặp được A Mi Đà Phật cũng là hiện tại, luôn luôn là hiện tại. Nói cách khác, mãi mãi trẻ tuổi, sẽ không già yếu, luôn luôn khỏe mạnh. Cần phải làm cho rõ ràng, làm cho sáng tỏ. Cho nên người niệm Phật, người thật sự niệm Phật, pháp hỉ liền sung mãn, pháp hỉ sung mãn, người ấy được đại tự tại. Ngay lúc này, 彌陀正在說法。因彼佛說法無間也。“Mi Đà chánh tại thuyết Pháp. Nhân bỉ Phật thuyết Pháp vô gián dã“ (đức Mi Đà đang thuyết Pháp. Bởi vị Phật ấy thuyết Pháp không gián đoạn). Câu nói này rất quan trọng, A Mi Đà Phật thuyết Pháp không hề gián đoạn, Thế giới Cực Lạc không có hôm nay, ngày mai, ngày mốt, không có. Nơi đó không có dương lịch, không có điều gì là năm tháng ngày giờ, không có, chỉ là hiện tại, luôn luôn là hiện tại. A Mi Đà Phật thuyết Pháp không hề ngừng lại, không hề nghỉ ngơi, Ngài cũng chưa nói để nghỉ một lúc, không có, thật là Ngài được đại tự tại. Vì sao vậy? Chúng ta có thể nghĩ đến, tại giảng đường, mọi người nhìn thấy A Mi Đà Phật thuyết Pháp, mỗi người nghe được đều là đặc biệt truyền riêng cho chính mình. Quý vị muốn học pháp nào chính là truyền cho quý vị pháp đó, đều là đơn truyền, đều là Đệ tử bậc nhất của đức Mi Đà, không có bậc hai, đức Mi Đà tự mình truyền thụ cho quý vị. Phải biết, phải tri ân báo ân, báo ân chính là ngay nhanh chóng đến Thế giới Cực Lạc, thân cận A Mi Đà Phật.

 A Mi Đà Phật cùng lúc đồng thời phân vô lượng vô biên thân, chúng ta có thể đều nhìn thấy. Phân vô lượng vô biên thân để làm gì? Đến thế giới mười phương, để tiếp dẫn người vãng sanh. Pháp giới hư không vô lượng vô biên, mỗi một Quốc độ của một vị Tôn Phật, người niệm Phật cầu vãng sanh, đó là không thể tính đếm, mỗi người ở trong đó đều cần Phật đến tiếp dẫn, Phật có một nguyện này. Nếu Ngài không đến tiếp dẫn, thì người niệm Phật sẽ không biết Thế giới Cực Lạc ở đâu, nhất định Ngài phải đến tiếp dẫn. Cho nên phân thân của Ngài là vô lượng vô biên. Sự phân thân cũng chưa hề dừng lại. Phân thân khi nào? Hiện tại, đều là hiện tại. Vẫn còn có một chuyện, chính chúng ta, chính chúng ta không phải cũng ngồi ở giảng đường nghe kinh sao? Chúng ta cũng đồng thời sẽ phân vô lượng vô biên thân, giống với A Mi Đà Phật. A Mi Đà Phật đến tiếp dẫn người vãng sanh, chúng ta đi làm gì? Chúng ta đến thế giới mười phương để bái Phật, cúng Phật trồng phước, tu phước, nghe Phật giảng kinh thuyết pháp là tu huệ, phước huệ song tu. Nghe A Mi Đà Phật giảng kinh thuyết pháp, đó là khoa mục chủ tu của ta, đồng thời nghe tất cả chư Phật mười phương thuyết pháp, đó là Pháp tu khác của ta, là trợ tu, chánh trợ song tu. Đến Thế giới Cực Lạc thành Phật là rất đơn giản, rất nhanh chóng thôi, tốc độ nhanh chóng, thành tựu rất cao, chúng ta không có cách nào tưởng tượng, không thể không biết điều này.

至於 “Chí ư” (Đến như), đoạn phía sau nói, 說法者是何身 “Thuyết Pháp giả thị hà thân” (thân thuyết Pháp là thân nào), là Pháp thân, Báo thân hay là Ứng hóa thân. 據《彌陀疏鈔》意 “Cứ A Mi Đà Sớ Sao ý” (Căn cứ vào ý trong A Mi Đà Kinh Sớ Sao), trong A Mi Đà Kinh Sớ Sao, do Đại sư Liên Trì nói, ý của Đại sư Liên Trì là, 說法者,當是應身。然亦兼報。„Thuyết Pháp giả, đương thị Ứng thân. Nhiên diệc kiêm Báo“ (Thân thuyết pháp, phải là Ứng thân. Nhưng cũng là Báo thân). Vì sao vậy? Bởi ở Thế giới Cực Lạc là Báo thân, ở thế giới mười phương, Phật hóa thân đi tiếp dẫn chúng sanh, đó là Ứng hóa thân, cho nên đều có Báo thân và Ứng thân. 如《觀經》云:六十萬億那由他恆沙由旬之身。則是報身說法 “Như Quán Kinh vân: lục thập vạn ức na-do-tha Hằng sa do-tuần chi thân. Tắc thị Báo thân thuyết pháp” (Như trong Quán Kinh ghi rằng: thân với 60 vạn ức na-do-tha Hằng hà sa do-tuần, chính là Báo thân thuyết pháp). Chúng ta đến Thế giới Cực Lạc, được hiện là thân gì? Chính là thân như vậy. Làm sao biết? Chúng ta chưa có công phu, vãng sanh đến cõi Phàm Thánh Đồng Cư độ của Thế giới Cực Lạc, còn là Hạ hạ phẩm, là thân như vậy phải không? Phải. Tại vì sao? Bởi trong 48 nguyện có một nguyện, sanh đến Thế giới Cực Lạc, đều là A-duy-Việt-trí Bồ-tát, đó là A-duy-Việt-trí Bồ-tát. Không có nói, Phàm Thánh Đồng Cư độ Hạ phẩm Hạ sanh là ngoại lệ, không hề nói. Không hề nói như vậy là hoàn toàn bình đẳng. Thế giới Cực Lạc đúng thật có bốn độ ba bậc chín phẩm, nhưng đối đãi của Ngài là bình đẳng, trí huệ, thần thông, đạo lực hoàn toàn bình đẳng. Thân tướng bình đẳng, không bình đẳng liền sinh phiền não, thân tướng tốt thì ngạo mạn cống cao, thân tướng không tốt thì cảm thấy tự ti, đây đều là sanh phiền não, cho nên bình đẳng. Đến Thế giới Cực Lạc thân tướng giống nhau, hoàn toàn bình đẳng, bốn độ ba bậc chín phẩm tất cả đều bình đẳng, không sanh phiền não, thuyết pháp rất tuyệt vời. Chính là Báo thân thuyết pháp.

《疏鈔》又云:有謂說法是應身報身,有謂三身齊說,各隨機見。三身齊說,則說法者雖是應身報身,實亦兼法身矣。“Sớ Sao hựu vân: hữu vị thuyết pháp thị Ứng thân Báo thân, hữu vị tam thân tề thuyết, các tùy cơ kiến. Tam thân tề thuyết, tắc thuyết pháp giả tuy thị Ứng thân Báo thân, chân diệc kiêm Pháp thân hĩ“ (Trong Sớ Sao nói thêm rằng: có khi nói thuyết pháp là Ứng thân Báo thân, có khi nói ba thân đều thuyết pháp, tuỳ mỗi căn cơ mà thấy được. Ba thân đều thuyết pháp, dù thân thuyết pháp tuy là Ứng thân Báo thân, nhưng thật cũng kiêm cả Pháp thân vậy). Pháp thân vĩnh viễn không thể tách rời, ba thân thuyết pháp cũng giảng được thông. Chúng ta học tập nhiều năm như vậy rồi, đều là sự giúp đỡ của tivi, máy tính, tôi thường dùng điều này làm ví dụ, Pháp thân là gì? Là màn hình của tivi, máy tính. Quý vị xem quý vị khởi động, màn hình mở rồi, một vùng trắng, một vùng sáng, sáng ngời, đều không có thứ gì khác, đó chính là Pháp thân. Mở kênh đài lên đó chính là Ứng thân, Ứng Hóa thân liền hiện tiền, Ứng Hóa thân không rời màn hình, nếu rời khỏi màn hình thì không có nữa, liền không thể xuất hiện. Cho nên vẫn là ba thân. Ba thân, nhưng mà chúng ta chỉ cảm nhận được Ứng thân và Báo thân, còn Pháp thân thì không cảm nhận được. Việc ấy có, việc ấy không phải không có, nếu như không có thì Báo thân, Ứng thân không hiện ra. Cho nên ba thân cùng thuyết, đây là giảng được thông rồi. Nên thuyết Pháp tuy là Ứng thân, Báo thân, nhưng thật kiêm cả Pháp thân, chúng ta xem từ màn hình ti vi, đều rất dễ dàng thể hội được ba thân. Đây là kim hiện tại thuyết pháp.

 Mấy chục năm trở lại đây, tôi đối với câu nói này, Đại sư Chương Gia dạy cho tôi, Đại sư Chương Gia khuyên tôi xuất gia, tôi là một mình ở Đài Loan, không có vướng bận, chính mình có thể làm chủ. Ngài thay tôi chọn lựa nghề nghiệp, khuyên tôi xuất gia, còn bảo tôi học đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đức Thích Ca Mâu Ni Phật kim thị hiện tại thuyết pháp. Gần nhất là mười mấy năm nay, tôi tiếp xúc với rất nhiều tôn giáo trên thế giới, phát hiện điều gì? Giáo chủ của họ, chính là người sáng lập tôn giáo sớm nhất, đều là kim hiện tại thuyết pháp, không có ngoại lệ. Phải biết đức Moses thuyết Pháp hai-ba mươi năm, đức Giê-su thuyết Pháp ba năm thì bị người hại chết. Đức Mu-ha-met thuyết Pháp 23 năm, có ghi chép, đức Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết Pháp 49 năm. Tôn giáo là giáo dục, tôn giáo không phải là thần thoại, không phải là mê tín, là giáo dục. Quý vị xem mỗi vị bắt đầu đều là vĩ đại nhất, tôi dùng lời hiện nay để nói, là nhà giáo dục xã hội. Không thuyết pháp thì diệt thôi, Phật pháp mà không có người thuyết, thì Phật pháp diệt, tôn giáo khác nếu không thuyết pháp thì cũng diệt. Sự thuyết pháp không chỉ giới hạn ở Phật giáo, mà tất cả tôn giáo đều thích hợp. Có giảng kinh, có nghe kinh, có tu hành, có chứng quả, là Chánh pháp, mỗi tôn giáo đều có Chánh pháp. Có giảng kinh, có nghe kinh, có tu hành, không có chứng quả, đó là Tượng pháp. Không có tu hành, là Mạt pháp. Giảng kinh, nghe kinh, không có nữa, chính là Diệt pháp rồi.

 Cho nên hai chữ “tôn giáo” này, chúng ta phải nhận thức rõ ràng. Sau đó chúng ta đối với Lão tổ tông Trung Hoa dùng hai chữ này để gọi, đây cũng là một ngành nghề, cực kỳ kiệt xuất! Trí huệ chân thật, lợi ích chân thật. “Tôn” có ba ý nghĩa. Chữ “tôn” có ba ý nghĩa, thứ nhất là chủ yếu, nghĩa thứ hai là quan trọng, nghĩa thứ ba là tôn sùng. Chữ “giáo” cũng có ba ý nghĩa, thứ nhất là giáo dục, thứ hai giáo học, thứ ba là giáo hóa. Quý vị xem, hai chữ tôn giáo hợp lại là: sự giáo dục chủ yếu, giáo học quan trọng và sự giáo hóa tôn sùng. Phần trên lại thêm một câu, tôn giáo là giáo dục chủ yếu của nhân loại, là thật không phải giả. Giáo học quan trọng, sự giáo hóa tôn sùng. Người phương Tây trước kia tín ngưỡng tôn giáo, nên xã hội phương Tây an định và hài hòa. Trung Hoa ở phương Đông, đối với tam giáo Nho Phật Đạo, xưng là tôn giáo, giáo dục chủ yếu. Bậc đế vương giao Nho giáo (Nho gia) cho Tể tướng, dùng Nho trị quốc. Phật giáo cùng Đạo giáo đều là do Hoàng thượng tự mình nắm bắt, chính mình cai quản. Dùng Phật giáo để giáo hóa nhân dân thiên hạ, dạy lão bá tánh, người được dạy tốt rồi. Người người đều có thể đạt tới phụng hành Ngũ giới Thập thiện, Lục độ, Mười nguyện Phổ Hiền, mỗi người đều là người tốt, thì thiên hạ thái bình. Dùng Đạo giáo, lễ nghi và quy tắc trong Đạo giáo, thờ cúng tổ tiên, thờ cúng thiên địa quỷ thần. Ba sự giáo dục này, tất cả đều có ích. Tôi xem đến đoạn văn tự, là ở trong Đại Tạng Kinh của Mông Cổ, trong văn tự xem được, văn tự đó dùng chữ Hán để viết, đế vương ba đời Nguyên, Minh, Thanh đều thực hiện như vậy. Giáo dục tôn giáo phương Tây, trong giáo dục tôn giáo có giáo dục luân lí, có giáo dục đạo đức, có giáo dục nhân quả, có giáo dục Thánh Hiền. Xã hội hiện tại của chúng ta là thiếu điều này, có thể hưng vượng tôn giáo trở lại, thì xã hội sẽ an định, tai nạn sẽ được hóa giải, thế giới được hòa bình, mỗi người đều có thể đạt được cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn, thật là tốt!

  Sự nỗ lực của chúng ta trong những năm này không hề vô ích. Việc thí nghiệm ở tiểu trấn Thang Trì, bây giờ trổ hoa, triển khai ở trong nước rồi, cũng ảnh hưởng đến nước ngoài. Chúng ta đoàn kết tôn giáo, tuy mấy năm nay làm được không đủ tốt, nhưng mang lại ảnh hưởng với xã hội phương Tây, đây là việc tốt. Tôn giáo phải đoàn kết, tất cả phát tâm ra giảng kinh. Giảng kinh gì? Chúng ta cần phải giảng kinh giống nhau. Thế nào là kinh giống nhau? Là phần giống nhau trong Kinh điển của mỗi tôn giáo. Quý vị xem, không có tôn giáo nào mà không giảng về hiếu thuận cha mẹ, hiếu thân này là kinh giống nhau. Trong mỗi tôn giáo đều nói về tình yêu thương, quý vị xem Thượng đế yêu thương thế nhân, Thần ái thế nhân, Thánh A-la thật đúng là nhân từ. Cho nên nhân từ bác ái là hạt nhân của tất cả tôn giáo, giảng những điều đó là giảng kinh của tất cả tôn giáo. Cho nên tôi khích lệ mỗi tôn giáo, đều từ trong Kinh điển của chính mình, từ kinh văn quan trọng nhất, trích dẫn 360 câu, hoặc là 360 đoạn nhỏ, đều là biên soạn xung quanh nhân từ bác ái, giá trị quan trọng tâm, tìm ra kinh văn rồi. Chúng ta đem in thành một quyển, quyển này là của tôi, đây là tôi đọc. 世界宗教是一家 “Thế giới tôn giáo thị nhất gia“ (Tôn Giáo Thế Giới Là Một Nhà). Trong đây là mười tôn giáo, mười tôn giáo, tôi trích dẫn kinh văn của họ, dịch ra tiếng Trung và tiếng Anh, do tôi trích dẫn, tôi dùng những điều trong quyển này để qua lại với tất cả tôn giáo, mọi người đều hoan hỉ. Bây giờ tôi hi vọng mỗi người họ đều biên soạn, đây là do chính tôi biên soạn, hi vọng mỗi tôn giáo đều biên soạn. Tương lai tất cả biên soạn tốt rồi, mọi người chúng ta chấp nhận bản đó, mở ra hội nghị tôn giáo thế giới, mọi người đồng ý, tương lai chúng ta sẽ in thành một quyển, một quyển bìa cứng, những lời giáo huấn quan trọng của tất cả tôn giáo, đều ở trong đó, chúng ta sẽ giảng bộ đó, sẽ học bộ đó.

 Năm nay, tôi đến thăm nước Anh, không ngờ đến bây giờ nước Anh thực hiện đoàn kết tôn giáo, tôi xem thấy rồi rất hoan hỉ. Họ đặc biệt mời những lãnh tụ tôn giáo tụ hội cùng tôi gặp nhau, tôi khuyên họ, mỗi người biên soạn cuốn 360, dùng thời gian một năm, đến cuối năm nay mọi người đều đưa ra, chúng ta có thể thực hiện một buổi thảo luận, thời gian mấy ngày để đọc, để khảo sát, mọi người cảm thấy rất hài lòng, chúng tôi sẽ cho lưu thông. Tất cả đi ra giảng, chính là kim hiện tại thuyết pháp, là dùng năm chữ này rồi. Đặc biệt nhắc nhở chúng ta, nhắc nhở tất cả tôn giáo, phải kim hiện tại thuyết pháp, tuyên dương giáo nghĩa của chính mình, cũng tuyên dương giáo nghĩa của tất cả tôn giáo. Khiến cho mọi người nghe nhiều, xem nhiều. Quý vị xem không phải do tôn giáo của chúng tôi nói, mà mỗi tôn giáo đều nói như vậy, đây là chân lý, đây không phải là kiến giải của người nào đó, không phải cách nghĩ của người nào cả. Đây là nói về chuyện chúng ta nên làm. Khoa học kỹ thuật ngày nay phát triển, phương tiện truyền thông phát triển, nơi nào trên toàn thế giới phát sinh sự việc nhỏ nào, thì toàn thế giới đều biết, giao thông tiện lợi, đi vòng quanh trái đất dễ dàng, cho nên địa cầu biến thành một thôn, thôn địa cầu. Cư dân trên thôn địa cầu nên đoàn kết thành người một nhà, phải yêu thương lẫn nhau, phải quan tâm lẫn nhau, phải chăm sóc lẫn nhau, khởi tâm động niệm đều phải vì thôn địa cầu của chúng ta mà lo nghĩ, không nên chỉ nghĩ về khu vực của chính mình, nghĩ về một nhà mình, nghĩ về thôn này của ta. Ta tốt, mọi người đều tốt, mang thiên đường đến địa cầu chúng ta, cũng đem Thế giới Cực Lạc đến địa cầu, dựa vào nỗ lực của tất cả chúng ta, tâm lượng phải rộng mở.

Còn một đoạn ngắn cuối cùng, 現度生 “Hiện Độ Sanh” (Thị Hiện ĐSanh).

 【有無量無數菩薩聲聞之眾。恭敬圍繞。】 “Hữu vô lượng vô số Bồ-tát Thanh văn chi chúng, cung kính vi nhiễu” (Có vô lượng vô số chúng Bồ-tát Thanh văn: cung kính vây quanh).

 Thị hiện giáo hóa chúng sanh, 有無量無數菩薩、聲聞之眾,恭敬圍繞 “hữu vô lượng vô số Bồ-tát Thanh-văn chi chúng, cung kính vi nhiễu” (có vô lượng vô số chúng Bồ-tát Thanh văn: cung kính vây quanh). 因彼土聖眾無量,復有十方前往禮覲聽法之聖眾,亦皆無量。悉皆圍繞彼佛座下 “Nhân bỉ độ Thánh chúng vô lượng, phục hữu thập phương tiền vãng lễ cận thính pháp chi Thánh chúng, diệc giai vô lượng. Tất giai vi nhiễu bỉ Phật tọa hạ“ (Bởi vì Thánh chúng nước ấy vô lượng, lại có Thánh chúng từ mười phương trước sau đến yết kiến nghe pháp, cũng đều vô lượng. Đều cùng vây quanh dưới toà của đức Phật ấy). Đây là đến Thế giới Cực Lạc để xem, dưới toà của A Mi Đà Phật, có vô lượng vô số chúng Bồ-tát Thanh văn, hiện nay chúng ta ở giảng đường, chúng sanh trong và ngoài giảng đường đều ngồi chật cả, trong số những chúng sanh ở đó, có Đẳng giác Bồ-tát, có chúng sanh địa ngục, Pháp môn rộng lớn, không gì so sánh được, quá vĩ đại rồi! Ở Thế giới Cực Lạc, người là thân Pháp tánh, hoàn cảnh là Pháp tánh độ. Nói ý nghĩa của Pháp tánh chính là không có lớn nhỏ, chính là không có tương đối. A-lại-da làm chủ bên trong Vọng tâm. Bên trong Vọng tâm có tương đối, có lớn có nhỏ, có dài có ngắn, có quá khứ có vị lai đều có tương đối. Bên trong Pháp tánh không có tương đối, Phật hiện thân ở trước mặt, ngay ở hiện tại, không có từ đâu tới, cũng không đi đến nơi nào, tất cả đều là hiện tại, đều là ngay lúc này, chúng ta không có cách nào tưởng tượng. Người mà Đại triệt Đại ngộ, Minh tâm Kiến tánh, thoạt nhìn các ngài rất bình thường, một chút cũng không khác lạ. Chúng ta cảm thấy rất kinh ngạc, là do trình độ của chúng ta không đủ, chúng ta phải hướng lên cao, tự hành hóa tha, hóa tha giúp chúng ta tự hành. Cho nên học hỏi, người khác hỏi chúng ta, chúng ta có thể trả lời, có lúc hỏi, chúng ta không thể trả lời, không thể trả lời là biết ta vẫn còn chưa đủ, ta vẫn phải nỗ lực, mới có thể đạt tới rộng độ, phổ độ tất cả chúng sanh. Chủng loại ở trong chúng sanh quá nhiều, vô lượng vô biên vô tận vô số. Việc này đều rất tuyệt vời, vì sao vậy? Bởi đều có thể đến Thế giới Cực Lạc tham gia Pháp hội của A Mi Đà Phật. Dù cho là từ địa ngục tới, nhưng người ấy cũng tín nguyện trì danh, họ mới có thể vãng sanh; nếu họ không có tín nguyện trì danh, thì họ làm sao có thể vãng sanh? Chính là nói tất cả những người đó đều đầy đủ điều kiện vãng sanh Thế giới Cực Lạc, chúng ta phải đuổi kịp. Phẩm Kinh này, chúng ta giảng đến đây.

 Tiếp theo, là đoạn phía dưới, đều nguyện thành Phật.

 【皆願作佛第十】“Giai Nguyện Tác Phật – Đệ Thập” (Phẩm thứ 10: Đều Nguyện Thành Phật).

 Phần trước có một đoạn giới thiệu, ý chính của phẩm này. 本品唯見於漢吳兩古譯 “Bổn phẩm duy kiến ư Hán Ngô lưỡng cổ dịch” (Phẩm này chỉ thấy trong hai bản cổ dịch thời Hán và Ngô). Trong phẩm có hai ý nghĩa quan trọng. Phẩm kinh này không dài, trong năm bản dịch gốc thì chỉ có bản Hán dịch có đoạn văn này, bản Ngô dịch có đoạn văn này, ba bản khác không có, không có đoạn văn này. Cho nên đây là chỗ tốt của bản này, chính là những gì trong năm bản dịch gốc, tất cả đều đầy đủ ở bản này. Chúng ta đọc một bản này, đều đọc được năm bản dịch gốc, có chỗ tốt này. Hai ý nghĩa quan trọng này, ý nghĩa thứ nhất, 阿闍王子等聞經歡喜,發願成佛,如阿彌陀佛,釋尊即為證明。是為啟發我等 “A Xà Vương tử đẳng văn Kinh hoan hỉ, phát nguyện thành Phật, như A Mi Đà Phật, Thích tôn tức vi chứng minh. Thị vị khải phát ngã đẳng“ (Vương tử A Xà vân vân… nghe Kinh thì hoan hỉ, phát nguyện thành Phật, giống như A Mi Đà Phật, đức tôn quý Thích Ca liền làm chứng minh, là khởi phát cho chúng ta). Vương tử A Xà, các ngài nghe Kinh hoan hỉ liền phát nguyện cầu vãng sanh, ngay nay chúng ta nghe đến phần Kinh này, cũng nên giống với Vương tử A Xà, 發起大願 “phát khởi Đại nguyện“ (phát khởi Đại nguyện). Đại nguyện này chính là cầu sanh Thế giới Cực Lạc, chính là đến bái sư, đến Thế giới Cực Lạc xin nhận A Mi Đà Phật làm thầy. Người giới thiệu là Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đức Bổn sư giới thiệu cho chúng ta, khuyên chúng ta tín nguyện trì danh, cầu sanh Tịnh Độ, làm học trò của của A Mi Đà Phật, thì rất nhanh chóng, quý vị liền nhanh chóng chứng đắc Vô thượng Bồ-đề. Đây là bổn hoài của A Mi Đà Phật, cũng là bổn hoài của đức Thích Ca Mâu Ni Phật, Phật Bồ-tát đều hi vọng chúng ta sớm một ngày thành Phật.

二者佛說是諸王子 “Nhị giả Phật thuyết thị chư Vương tử” (Thứ hai, đức Phật nói các vị Vương tử), đó là những người có duyên với A Mi Đà Phật, 已於無量劫中行菩薩道,過去生中即佛弟子,故今復相值 “Dĩ ư vô lượng kiếp trung hành Bồ-tát đạo, quá khứ sanh trung tức Phật đệ tử, cố kim phục tương trị” (đã hành Bồ-tát đạo ở trong vô lượng kiếp, trong đời quá khứ là đệ tử của Phật, nên nay gặp lại), câu nói này rất quan trọng. Trong kinh Đại thừa Phật nói qua không chỉ một lần, nói với chúng ta. Người niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ không phải người thường, bất luận quý vị dùng phương pháp gì để vãng sanh Tịnh Độ, nói tóm lại, trong đời quá khứ, quý vị đã từng cúng dường vô lượng chư Phật Như Lai. Thứ nhất, hôm nay chúng ta gặp được Pháp môn này, vì sao quý vị có thể sanh khởi tín tâm? Vì sao có thể vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc làm Phật? Là được uy thần của vô lượng chư Phật gia trì, tâm này mới phát khởi được. Nếu như không có công đức tu hành trong quá khứ, nguyên nhân thực sự này, thì ngày nay gặp được mà quý vị phát không nổi tín tâm này. Vậy chúng ta gặp được rồi, tâm không phát khởi được thì phải làm sao? Nên biết trong quá khứ chúng ta cúng dường chư Phật Như Lai, số lượng đó vẫn không đủ, bây giờ bổ sung vào. Cách bổ sung thế nào, niệm Phật chính là bổ sung. Hễ có thời gian ta liền niệm A Mi Đà Phật, liền có thể bù đắp chỗ thiếu. Phải có tín tâm này. Cho nên đời đời kiếp kiếp trong quá khứ đều là đệ tử của Phật, mới có thiện căn phước đức này, giống như Vương tử A Xà. Cho nên thứ nhất chúng ta lại cùng nhau gặp được rồi, đây là biểu thị 一切諸法不離因緣 “nhất thiết chư Pháp bất ly nhân duyên” (tất cả các pháp không rời nhân duyên). Trong đời quá khứ chúng ta đã kết duyên duyên, tức là vô lượng kiếp trước chúng ta có duyên với A Mi Đà Phật, cho nên đời này vãng sanh không phải là việc khó. Đời này, 今日得遇此經,聞是淨宗妙法,亦必多生以來,蒙受兩土導師教化濟度 “Kim nhật đắc ngộ thử Kinh, văn thị Tịnh tông diệu pháp, diệc tất đa sanh dĩ lai, mông thọ lưỡng độ Đạo sư giáo hóa tế độ” (ngày nay được gặp Kinh này, nghe được pháp Vi diệu Tịnh tông, cũng nhất định từ nhiều kiếp đến nay, được nhận sự tế độ giáo hóa của đấng Đạo sư hai cõi). Pháp duyên thù thắng này, quan trọng nhất là chính chúng ta phải chấp nhận, tự mình phải dám đảm nhận. Nếu như khách khí, không dám đảm nhận, vậy thì bỏ lỡ cơ hội trước mắt, thật quá đáng tiếc rồi! Gặp được Pháp môn này, là có duyên rất sâu với đức Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng là có duyên vô cùng sâu dày với A Mi Đà Phật.

 Mặc dù tôi rất vất vả để chấp nhận Pháp môn này, tôi từ trong giáo lý mà nhập môn, thật sự đắc lực là từ Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Viên Giác, Hoa Nghiêm, đây đều là Kinh lớn. Tôi giảng Kinh Hoa Nghiêm, giảng đến 53 lần tham học của ngài Thiện Tài, quyển 39 của Tứ Thập Hoa Nghiêm, đọc đến ngài Văn Thù, ngài Phổ Hiền cũng là niệm Phật vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc thành Phật. Lúc này tôi mới quyết trọn một lòng quay về Tịnh Độ. Tại vì sao? Bởi tôi có sự chắc chắn, tu học Pháp môn khác tôi không chắc chắn. Pháp môn khác chính mình phải đoạn phiền não, hướng lên cao. Pháp môn này toàn bộ nương vào Phật lực, tôi tin sâu không hoài nghi. Cho nên tôi  buông xuống Kinh Hoa Nghiêm, chuyên giảng Kinh Vô Lượng Thọ, chuyên niệm A Mi Đà Phật, đời này quyết định cầu sanh Tịnh Độ, không có ý niệm thứ hai, buông xuống vạn duyên. Thế giới Cực Lạc là quê nhà của tôi, đức Mi Đà là Bổn sư của tôi, duyên chín muồi rồi, tôi hãy nên trở về thôi.

 Nhân duyên này, 今日方能有這樣殊勝的因緣 “Kim nhật phương năng hữu giá dạng thù thắng đích nhân duyên” (ngày nay mới có được nhân duyên thù thắng như vầy). Nếu duyên không đủ thì tín tâm không kiên cố. Vẫn còn muốn học thứ này, học thứ kia, cũng là duyên không đủ. Thật sự đủ duyên rồi, sẽ giống như tôi triệt để buông xuống, một phương hướng, một mục tiêu. Sau khi đến Thế giới Cực Lạc thành Phật, chúng ta lại thả chiếc thuyền từ, phổ độ chúng sanh. Lúc đó A Mi Đà Phật ở phía sau làm sau sân khấu, có chỗ dựa vững chắc. Phía trước chính mình Đại triệt Đại ngộ, Minh tâm Kiến tánh, hơn nữa ngay cả Tập khí Vô minh cũng đoạn rồi, chân thật thành tựu viên mãn. Cuối cùng, ngày nay đồng tu xuất gia đã đến không ít người, tôi vẫn là khuyên nhủ mọi người, chúng ta nhất định học thêm một bộ kinh, hoặc là một bộ luận. Tại vì sao như vậy? Bởi đó là tiếp nối Huệ mạng Phật, không kể Đại thừa Tiểu thừa đều được, chúng ta phải truyền tiếp, truyền ít nhất một bộ. Chính mình nhất định phải sanh Tịnh Độ, nếu không sanh Tịnh Độ thì rất đáng tiếc. Được rồi, thời gian hôm nay đã hết, chúng ta học tập đến đây.

(Hết tập 248)

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử cùng chúng sanh
Đều sanh nước Cực Lạc
Sớm viên thành Phật quả
Rộng độ khắp chúng sanh.

Nam Mô A Mi Đà Phật.