Responsive Menu
Add more content here...

Tập 321 – Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2014

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014-2017

(Giảng lần thứ 4)

PHẨM 24: TAM BỐI VÃNG SANH:

Ba Bậc Vãng Sanh

Tập 321

Hòa thượng Tịnh Không chủ giảng.

Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Australia.

Thời gian: Ngày 14 tháng 3 năm 2016.

Dịch giả: Minh Tâm và Chân Hạnh Ánh.

Giảo chánh: Thích Thiện Trang.

Ban Phiên Dịch Hoa Tạng Huyền Môn.

          Kính chào: Chư vị Pháp sư, chư vị đồng học, mời ngồi. Mời mọi người cùng tôi quy y Tam Bảo: “A-xà-lê tồn niệm, ngã Đệ tử Diệu Âm, thỉ tùng kim nhật, nãi chí mạng tồn, quy y Phật-Đà, lưỡng túc trung tôn, quy y Đạt-Mạ, ly dục trung tôn, quy y Tăng-Già, chư chúng trung tôn” (3 lần)

Mời xem Đại Kinh Khoa Chú, trang 763, đếm ngược đến dòng thứ năm, 「往生果德」“vãng sanh quả đức” (quả đức của vãng sanh). Mời xem kinh văn:

【其人臨終。阿彌陀佛化現其身。光明相好。具如真佛。與諸大眾前後圍繞。現其人前。攝受導引。即隨化佛往生其國。住不退轉。無上菩提。功德智慧。次如上輩者也。】 “Kỳ nhân lâm chung, A Di Đà Phật hóa hiện kỳ thân, quang minh tướng hảo, cụ như chân Phật, dữ chư đại chúng tiền hậu vi nhiễu, hiện kỳ nhân tiền, nhiếp thọ đạo dẫn, tức tùy hóa Phật vãng sanh kỳ quốc, trụ bất thoái chuyển: Vô thượng Bồ-đề; Công đức trí huệ, thứ như thượng bối giả dã” (Người ấy khi mạng sắp hết, hóa thân của A Di Ðà Phật hiện ra, với đầy đủ quang minh tướng tốt như Phật thật, cùng với đại thánh chúng vây quanh trước sau, hiện trước người ấy, nhiếp thọ dẫn đường, liền theo hóa Phật vãng sanh nước ấy, trụ bậc bất thoái chuyển Vô thượng Bồ-đề, công đức trí huệ kém sau bậc thượng). Đây là vãng sanh bậc trung. Chúng ta xem chú giải của Niệm lão, 『其人臨終』“kỳ nhân lâm chung” (Người ấy khi mạng sắp hết), nhân tu hành người này thuộc bậc Trung, ngay lúc mạng họ sắp hết, 『阿彌陀佛化現其身』“A Di Đà Phật hóa hiện kỳ thân” (hóa thân của A Di Ðà Phật hiện ra), hóa thân của A Di Đà Phật, 『光明相好,具如真佛』“quang minh tướng hảo, cụ như chân Phật” (với đầy đủ quang minh tướng tốt như Phật thật), tướng hảo quang minh của hóa Phật, không khác gì với Phật thật. Những điểm này, lúc chúng ta đọc tụng phải lưu ý, tại vì sao? Bởi vì đến khi chúng ta lâm chung, nhìn thấy A Di Đà Phật đến tiếp dẫn chúng ta, chúng ta sẽ nhìn thấy Phật là hình dáng nào? Giống với Phật thật. Trong Viên Trung Sao, đây là trước tác của Đại sư U Khê, A Di Đà Kinh Viên Trung Sao, Đại sư nói với chúng ta, 「真佛者,彌陀之應身也,化身則從應身,又變化其身,而來接引」 “chân Phật giả, Di Đà chi ngthân dã, Hóathân tắc tùng ngthân, hựu biến hóa kỳ thân, nhi lai tiếp dẫn”(‘chân Phật’ Ứng-thân của đức Di Ðà, Hóa-thân là từ Ứng-thân, lại biến hóa ra thân ấy, để đến tiếp dẫn), đây là điều mà Đại sư U Khê nói với chúng ta. Đây là nói Hóa-thân do Ứng-thân biến hiện ra. A Di Đà Phật thời thời khắc khắc, có thể nói Ứng-hóa-thân, trước nay chưa từng gián đoạn, mà thân này không phải là một thân, hai thân, là vô lượng vô biên, vô số vô tận. Tại sao vậy? Mười phương, còn có quá khứ vị lai hiện tại, cõi nước, báo độ của chư Phật Như Lai, vô lượng vô biên, không có cùng tận, mỗi một vị tôn Phật giáo hóa chúng sanh, không có vị nào không khuyên mọi người niệm Phật, cầu sanh thế giới Cực Lạc. Cho nên, người vãng sanh đến thế giới Cực Lạc, nườm nượp không ngớt, không kể ngày đêm, mỗi phút mỗi giây, vô lượng vô biên. Mỗi một người vãng sanh, đều nhìn thấy Hóa-thân của A Di Đà Phật đến tiếp dẫn họ, không có Hóa-thân của Phật tiếp dẫn, chư vị không biết thế giới Cực Lạc ở nơi nào, chư vị không đi được.

          Chỗ này hiển thị, thần thông quảng đại trên quả địa của Như Lai, chúng ta không thể không biết. Càng nên phải rõ ràng, nếu chúng ta có thể thể hội được, thì công đức gia trì của Phật không thể nghĩ bàn. Tại vì sao? Bởi mỗi một người chúng ta vãng sanh, sau khi đến thế giới Cực Lạc, đạt được sự gia trì bởi uy thần bổn nguyện của A Di Đà Phật, chính là 48 nguyện được nói trên kinh, còn có sự gia trì công đức tu hành vô lượng kiếp: của A Di Đà Phật. Phật từ bi, gia trì chúng ta, nâng năng lực của chúng ta lên rồi, thì trí huệ thần thông đạo lực của chúng ta, dường như xấp xỉ với Phật, Phật có thần thông lớn như vậy, chúng ta cũng có. Từ vãng sanh hạ Hạ phẩm của Phàm Thánh Đồng Cư độ, thẳng đến vãng sanh thượng Thượng phẩm của Thật Báo Trang Nghiêm độ, trí huệ đức năng thần thông không gì không đầy đủ. Đầy đủ đến mức nào? Xấp xỉ giống như A Di Đà Phật. Phật hóa thân là tiếp dẫn đại chúng, chúng ta hóa thân làm gì? Hóa thân của chúng ta đến mười phương thế giới, ở trong đó còn có ba đời, quá khứ hiện tại vị lai, đến trước mười phương ba đời Phật tu cúng dường, cúng Phật, lễ Phật, tu phước, phước lớn vô lượng vô biên, rất mau thì tu thành rồi. Không những tu phước, mà còn nghe Phật thuyết pháp. Pháp của mỗi một vị Phật nói không giống nhau, chư vị là dùng vô lượng vô biên thân, lễ vô lượng vô biên Phật, nghe vô lượng vô biên Phật nói pháp cho chư vị. Chư vị không cần phải có thời gian rất dài, thời gian rất ngắn, thì chư vị học hết tất cả đại pháp rốt ráo, mà chư Phật Như Lai đã chứng, tốt nghiệp rồi. Tốt nghiệp thì thành Phật, thì chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

[12:09]

          Nơi đó nên đến hay không? Nếu chư vị phát nguyện cầu sanh, thì chư vị là người trí huệ đứng đầu trong thế xuất thế gian. Tại vì sao? Chư vị lựa chọn con đường chính xác, thật thành tựu rồi. Nếu không đi, thế thì vấn đề liền nghiêm trọng, chư vị lại luân hồi vô lượng kiếp, chư vị học Phật cũng phải vô lượng kiếp. Chư vị tiến hành cực khổ vô lượng kiếp, cũng không bằng người vãng sanh hạ Hạ phẩm: ở thế giới Cực Lạc, sánh không kịp họ. Hạ Hạ phẩm vãng sanh, kỳ hạn cầu chứng, họ đến thế giới Cực Lạc họ biết, tôi vãng sanh đến nơi này rồi, khi nào chứng quả vị viên mãn rốt ráo, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, liền được rõ ràng. Cho nên không thể không đến thế giới Cực Lạc, không đi thì chư vị hồ đồ đến không rõ vì sao. Đi thế nào? Y chiếu pháp bổn này tu hành, bộ Kinh Vô Lượng Thọ này là giới thiệu cho chúng ta, giới thiệu thế giới Cực Lạc cho chúng ta, cũng là giấy bảo lãnh của chúng ta, là hộ chiếu của chúng ta, là thị thực của chúng ta, chính dựa vào giấy tờ này để có thể vãng sanh thế giới Cực Lạc, thì có thể thấy A Di Đà Phật, làm học trò của A Di Đà Phật. Chắc chắn một đời, không có đời thứ hai, người thế giới Cực Lạc vô lượng thọ, nhất định viên mãn thành tựu trong một đời.

          Trong Hội Sớ nói, 「具如真佛者」“cụ như chân Phật giả” (đầy đủ như chân Phật), chính là giống như Phật thật, 「如《觀經》中」“như Quán Kinh trung” (như trong Quán Kinh) nói, trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ giảng, 「上輩三人」“Thượng bối tam nhân” (ba người bậc Thượng), thượng Thượng phẩm, thượng Trung phẩm, thượng Hạ phẩm, ba bậc người ấy. 「臨終時,皆言阿彌陀佛及與化佛來迎此人。故知真佛」“lâm chung thời, giai ngôn A Di Đà Phật cập dữ hóa Phật lai nghinh thử nhân. Cố tri chân Phật” (Lúc lâm chung, đều nói A Di Ðà Phật hóa Phật đến đón người ấy. Nên biết là Chân Phật), tại vì sao? Cùng với A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, không phải người ngoài, là chư Phật Như Lai, không phải Bồ-tát, là chư Phật. A Di Đà Phật không phải Phật thật, tại sao có nhiều Phật xung quanh Ngài như vậy? Người của ba bậc vãng sanh, ba bậc Thượng Trung Hạ đều nói, thấy Phật cho đến còn có hóa Phật đến tiếp đón, nên biết là Phật thật, 「指上輩所見佛也。餘例上可知」“chỉ Thượng bối sở kiến Phật dã. Dư lệ thượng khả tri” (chỉ Phật mà bậc Thượng trông thấy, các bậc khác theo trên có thể biết).

「中輩之人,臨終得見化佛,亦決往生。因佛諸身不一不異」“Trung bối chi nhân, lâm chung đắc kiến hóa Phật, diệc quyết vãng sanh. Nhân Phật chư thân bất nhất bất dị” (Người bậc Trung, lúc lâm chung được thấy hóa Phật, cũng nhất định vãng sanh. Vì các thân của Phật chẳng một chẳng khác). Thân thật của Phật, Ứng-thân của Phật, Hóa-thân của Phật là một, không phải hai. Tại sao Thượng Trung Hạ phẩm thấy Phật khác nhau? Ở trong đây chúng ta có ví dụ có thể biết. Vào năm 1977, lần đầu tiên tôi đến Hồng Kông giảng kinh, lần đó đã ở Hồng Kông bốn tháng, quen biết Pháp sư Thánh Nhất. Là một vị Pháp sư giỏi rất ít có: trong số những người xuất gia ở Hồng Kông, ngài tu thiền. Đó là Đạo tràng Thiền tông, mời tôi đến thăm, lúc đó còn có hơn 40 người xuất gia, tham Thiền ở trong Thiền đường, tọa Thiền theo hương mỗi ngày, tôi nhìn thấy rồi vô cùng hoan hỷ. Nơi chúng ta thực sự niệm Phật tu hành là Niệm Phật đường, họ là Thiền đường. Thiền đường là ngồi xếp bằng tĩnh tọa, tọa hương, chính là một cây nhang, một cây nhang dài là một tiếng rưỡi đồng hồ, hai cây nhang thì là ba tiếng đồng hồ, tôi rất bội phục. Pháp sư Thánh Nhất mời tôi giảng khai thị cho đại chúng, tôi tán thán đối với Thiền tông, tán thán đối với Đạo tràng, tán thán đối với Pháp sư Thánh Nhất. Chúng ta mãi mãi ghi nhớ, 「若要佛法興,唯有僧讚僧」“Nhược yếu Phật pháp hưng, duy hữu Tăng tán Tăng” (Nếu muốn Phật Pháp hưng, chỉ có Tăng tán thán Tăng), đây là đức Phật dạy bảo chúng ta, 53 lần tham học của Thiện Tài đồng tử, biểu diễn cho chúng ta xem, bất luận tu học pháp môn nào, [thì] pháp môn nào, đều là do Phật Thích Ca Mâu Ni truyền lại, tán thán pháp môn chính là tán thán Phật, hủy báng pháp môn chính là báng Phật. Đạo lý này không khó hiểu, không quá sâu, nên có thể lãnh hội, có thể giác ngộ. Cho nên thời thời khắc khắc khen ngợi Tam Bảo, tán thán người tu hành.

[20:39]

Pháp sư Thánh Nhất nói với tôi, các ngài có hai Pháp sư, hai vị ở Hồng Kông, đến Đại Lục triều bái Đạo tràng của Bồ-tát Quán Thế Âm. Đạo tràng có một động Triều Âm, rất nhiều người đều đi thăm viếng, ở nơi đó lễ Phật, cầu Bồ-tát Quán Âm hiện thân. Ở Đại Lục có một vị Pháp sư đi cùng với hai ngài, ba người cùng một đường, lạy được nửa giờ, Bồ-tát Quán Âm đã xuất hiện, hoan hỷ, ba người đều hoan hỷ. Thấy được chưa? Thầy thấy được chưa? Thấy được rồi; Thầy thấy được hay chưa? Thấy được rồi, ba người đều thấy được rồi. Lúc thấy được, thì ngài hỏi, thầy thấy được hình dáng ra sao? Bồ-tát mà Pháp sư Thánh Nhất trông thấy, giống hình dáng của Bồ-tát Địa Tạng, có đội mão, kim sắc, toàn thân sắc vàng, phóng ánh sáng vàng, kim sắc kim quang. Các vị ấy đã nhìn nửa giờ, thời gian rất lâu, lễ bái bên ngoài. Một vị Pháp sư khác trông thấy, là Bạch Y Đại sĩ, không giống nhau, Bạch Y, giống bình thường nhìn thấy những tranh vẽ như vậy. Còn có một vị Pháp sư, Pháp sư của Đại Lục, trông thấy là người xuất gia, là một Hòa thượng, là hình dáng như vậy. Ba người thấy ba tướng khác nhau. Như việc thấy chân thân, thấy Ứng-thân, thấy Hóa-thân: ở lúc sau cùng của vãng sanh thế giới Cực Lạc. Có phải A Di Đà Phật, cố ý hiện thân này hay không? Không phải, A Di Đà Phật không có ý niệm, không có khởi tâm, không có ý niệm, hình tướng mà chư vị trông thấy thế nào: là do tâm của chư vị biến hiện ra, phải biết điều này. Ba vị Pháp sư ấy lễ động Triều Âm, nhìn thấy ba thân tướng khác nhau: của Bồ-tát Quán Âm, nói rõ công phu tu hành của ba người ấy, sâu cạn khác nhau. Pháp sư Thánh Nhất thấy được đội mũ Tỳ Lô, mão mà Bồ-tát Địa Tạng đội: là mũ Tỳ Lô, toàn thân sắc vàng. Kim sắc kim quang, bạch sắc bạch quang, phóng quang, không giống nhau. Lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ có trình bày phân tích sự việc này: trong Tịnh Tu Tiệp Yếu Báo Ân Đàm. Mọi người có thể xem quyển sách ấy, hoặc là nghe đĩa CD ấy, chư vị đã nghe được, khuyến khích chúng ta, chúng ta phải dụng công. Pháp sư Thánh Nhất vãng sanh rồi, vô cùng đáng tiếc! Lúc ngài bị bệnh, tôi có đi thăm ngài một lần, về sau thì không còn gặp lại nữa, vị Pháp sư cực kỳ hiếm có. Tôi giảng kinh ở Hồng Kông, lúc đó giảng kinh bốn tháng, chỉ có một mình ngài khuyên bảo tín đồ của ngài, hộ pháp chùa chiền của ngài đến nghe tôi giảng kinh. Đạo tràng khác, Pháp sư đến nghe, tín đồ thì không có; Chỉ có ngài đến nghe, thì dẫn theo cả tín đồ, thật không dễ có. Chỉ cần giảng được như Pháp, không cần có phân biệt. Lần đó tôi giảng Kinh Lăng Nghiêm, Lăng Nghiêm có liên quan với tham Thiền, có liên quan với Thiền tông.

[25:58]

          Chỗ này nói rõ, lâm chung thấy Phật ở đây, tướng trông thấy cũng khác nhau, thấy tướng tiếp dẫn này có sai biệt, thì cũng biết được, phẩm vị vãng sanh thế giới Cực Lạc của chúng ta. Nếu có Phật, A Di Đà Phật, còn có mười phương hóa Phật, cùng đến với A Di Đà Phật, thì nhất định là bậc Thượng. Chỉ có bậc Thượng, thượng Thượng phẩm, thượng Trung phẩm, thượng Hạ phẩm, mới có Phật, hóa Phật. Bậc Trung thì sao? Bậc Trung không có hóa Phật, Bồ-tát, Thanh-văn, Duyên-giác. Bậc Hạ, tiếp theo chúng ta sẽ đọc đến, chương tiếp theo đó chính là bậc Hạ. Cho nên chỗ này là nói, người bậc Trung, lâm chung được thấy hóa Phật, cũng nhất định vãng sanh, chắc chắn vãng sanh. Vì thân chư Phật không một không khác, trông thấy Hóa-thân Phật, và thấy chân thân Phật không có khác nhau. Chúng ta phải sáng tỏ đạo lý này. 「故隨化佛往生安樂,住不退轉,但功德智慧次於上輩者也。」“Cố tùy hóa Phật vãng sanh An Lạc, trụ bất thoái chuyển, đãn công đức trí huệ thứ ư Thượng bối giả dã.” (Nên theo hóa Phật vãng sanh An Lạc, trụ bất thoái chuyển, nhưng công đức trí huệ kém hơn bậc Thượng).

          Ba bậc Thượng Trung Hạ, chúng ta phải nghiêm túc nỗ lực, đều có thể gắng sức được. Người vãng sanh, xác thực có hơn một nửa trong số họ, dụng công khi còn sống, giúp họ nâng cao phẩm vị. Căn tánh, trí huệ của chúng ta không như người khác, nghiệp của chúng ta tạo nặng hơn người khác, tự mình nghiêm túc phản tỉnh kiểm điểm, người phải tự biết rõ điều này, với Kinh điển, mỗi ngày đọc kinh để đối chiếu. Không những chúng ta không làm được bậc Thượng, vì bậc Thượng phải minh tâm kiến tánh, phải đại triệt đại ngộ, sanh Thật Báo độ; Bậc Trung sanh Phương Tiện Hữu Dư độ, là cảnh giới của A-la-hán, Bích-chi-Phật, chúng ta cũng không dễ gì đạt được; nói cách khác, phàm phu sáu đường đi vãng sanh, đại đa số đều là sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư độ, chính là bậc Hạ, cũng đáng nể rồi. Bậc Trung vãng sanh thấy được hóa Phật, hóa Phật của A Di Đà Phật, thấy được [Bồ-tát] Quán Âm, Thế Chí; Có khi chỉ thấy A Di Đà Phật, không có thấy được ngài Quán Âm, Thế Chí; thậm chí có lúc chỉ thấy được: [hai ngài] Quán Âm, Thế Chí đến tiếp dẫn, cũng được. Tây Phương Tam Thánh đến một vị, đều được, hoặc là thấy ngài Quán Âm, hoặc là thấy ngài Thế Chí, đều có thể vãng sanh, cũng đừng nghi ngờ, Tam Thánh đến tiếp dẫn. Bình thường chúng ta niệm Phật niệm được nhiều, niệm Bồ-tát Quán Âm tương đối ít, niệm Bồ-tát Thế Chí thì càng ít hơn, thế nhưng đều là giống nhau, không có cao thấp, dùng tâm bình đẳng để đối đãi. Là công đức trí huệ của chính chúng ta không đủ, chúng ta trông thấy chư Phật Bồ-tát, thì trong tâm rất rõ ràng, rất sáng tỏ.

[31:15]

          Đoạn tiếp theo đây, 「又《觀經》中品三種往生者,皆未言發菩提心。生極樂後,所證亦皆聲聞乘果。如中品上生,花開即得阿羅漢果」“Hựu Quán Kinh Trung phẩm tam chủng vãng sanh giả, giai vị ngôn phát Bồ-đề tâm. Sanh Cực Lạc hậu, sở chứng diệc giai Thanh-văn thừa quả. Như Trung phẩm Thượng sanh, hoa khai tức đắc A-la-hán quả” (Ba hạng vãng sanh Trung phẩm trong Quán Kinh, đều không nói là phát Bồ-đề tâm. Sau khi sanh Cực Lạc, đều chứng quả Thanh-văn thừa. Như Trung phẩm Thượng sanh, hoa nở liền đắc quả A-la-hán), Trung phẩm Thượng sanh. Đó chính là Phương Tiện Hữu Dư độ trong tứ độ, Trung phẩm Thượng sanh trong Phương Tiện Hữu Dư độ. Trung phẩm sanh Phương Tiện độ, Thượng phẩm sanh Thật Báo độ, Hạ phẩm sanh Phàm Thánh Đồng Cư độ. Chúng ta nhìn thấy Đại sư Liên Trì, Ngẫu Ích, là người học Phật chúng ta, đặc biệt là Tịnh tông, chúng ta bội phục hai vị Đại sư này đến vô cùng, các ngài là người những năm cuối triều Minh. Ngài Liên Trì ở cuối triều Minh, Đại sư Ngẫu Ích là cuối triều Minh đầu triều Thanh, lúc ngài ra đời là những năm cuối triều Minh, khi ngài vãng sanh là triều Thanh, ngài đã sống qua hai triều đại. Chư vị xem Di Đà Kinh Sớ Sao, do Đại sư Liên Trì làm; Di Đà Kinh Yếu Giải, do Đại sư Ngẫu Ích làm. Đại sư Ấn Quang: bội phục hai vị Tổ sư này đến vô cùng, đặc biệt đối với Yếu Giải của Đại sư Ngẫu Ích, nói rằng: 「即使古佛再來,給《阿彌陀經》做個註解,也不能超過其上」“tức sử cổ Phật tái lai, cấp A Di Đà Kinh tố cá chú giải, dã bất năng siêu quá kỳ thượng” (cho dù cổ Phật tái lai, làm chú giải cho Kinh A Di Đà, cũng không thể vượt qua sách trên). Lời tán thán này, đã tán thán đến đỉnh điểm rồi.

          Tôi ở Singapore, có một lần Pháp sư Diễn Bồi mời tôi ăn cơm, là ở một quán chay, quán chay đó tên là Linh Chi, rất nổi tiếng ở Singapore. Ngài chỉ dẫn theo một Thị giả, ba người chúng tôi [cùng] ăn cơm. Ngài hỏi tôi, ngài nói Pháp sư Tịnh Không, hôm nay tôi mời thầy ăn cơm, thầy biết tại sao không? Tôi nói tôi không có thần thông, tôi cũng không biết. Ngài nói tôi có một vấn đề muốn thỉnh giáo thầy. Tôi nói tôi không dám. Ngài là lão tiền bối của chúng tôi, người trẻ trong các lão tiền bối, ngài chỉ lớn hơn tôi 10 tuổi. Hỏi tôi một vấn đề gì? Chính là Đại sư Ấn Quang: tán thán đối với Đại sư Ngẫu Ích, có phải có chút quá mức không? Hỏi tôi câu hỏi này. Tôi nói với ngài, tôi nói lời của Đại sư Ấn Quang, là lời chân thật thuần túy cực kỳ, một chút cũng không quá đáng, thật là như vậy. Pháp sư Diễn Bồi, ngài học Duy Thức, giảng được rất nhiều kinh luận Duy Thức, trước tác rất phong phú. Cũng qua đời rồi, ngài dường như là 80 tuổi qua đời, rất đáng tiếc, là tổn thất của nhà Phật chúng ta, sau khi qua đời, không có truyền nhân tiếp nối về sau. Thời ngài còn sống, học Duy Thức còn có thầy, sau khi ngài đi rồi, muốn học Pháp tướng Duy Thức thì không còn thầy nữa. Pháp tướng Duy thức, không có thầy thì không được, rất khó. Tông: Hiền Thủ, Thiên Thai, Tam Luận, không có thầy, còn dễ; Pháp tướng, mà không có thầy thì không được, nhất định phải có thầy.

[36:57]

          Cho nên truyền nhân cũng là đời sau kém hơn đời trước. Thầy của tôi, lão Cư sĩ Lý Bỉnh Nam, so với Đại sư Ấn Quang thì không bằng, khoảng cách này cũng rất lớn, tôi so với thầy Lý cũng kém một khoảng lớn, đây là đời sau kém hơn đời trước. Nếu có thêm sau tôi, thì họ không theo kịp tôi, lại phải kém một bậc so với tôi, vậy làm thế nào? Đây là tướng suy của Phật pháp, sau năm đời thì xong rồi. Phải truyền thế nào? Phải một đời mạnh hơn một đời, đời sau càng giỏi, vậy thì Phật pháp hưng thịnh rồi. Có nỗ lực hay không? Nỗ lực thì có. Học với tôi, hiện nay tôi biết có hai người sẽ vượt qua tôi. Một là Cư sĩ Lưu Tố Vân, học Kinh Vô Lượng Thọ, công phu tinh tấn của cô ấy thì tôi không bằng. Cô ấy tu học quyển hội tập này, cô ấy chỉ một quyển, cả đời vĩnh viễn không đổi, mỗi một ngày đọc 10 lần, đã đọc 10 năm. 10 năm niệm thuộc rồi, đọc một lần cần bao nhiêu thời gian? Nửa giờ đồng hồ thì đọc xong một lần. Một ngày 10 giờ đọc 20 lần, một ngày đọc 20 lần, đọc bao lâu? Lại đã đọc 10 năm, có lẽ đến năm ngoái đã đủ 10 năm. Nền tảng của Vô Lượng Thọ, tôi không bằng cô ấy. Cô ấy có khai ngộ hay không? Chắc chắn khai ngộ. tôi không dám nói đại triệt đại ngộ, đại ngộ nhất định có. 10 năm, tiểu ngộ; 20 năm, đại ngộ. Công phu của cô ấy không hề gián đoạn, đến đại triệt đại ngộ, được bổn nguyện A Di Đà Phật gia trì, rất có khả năng. Hòa thượng Hải Hiền chứng đắc, người thứ hai sau Hòa thượng Hải Hiền, [là] Cư sĩ tại gia.

          Con người của tôi đời này có một ưu điểm, thích người khác cao hơn tôi, thích người khác tốt hơn tôi. Tương lai tôi mở lớp ở trường Phật giáo, trường học mời tôi, tôi mở lớp gì? Mở Kinh Vô Lượng Thọ. Sri Lanka có một trường Đại học Long Hỷ, đây là trường tôi phát khởi xây dựng, tương lai trường học này cũng mời tôi mở lớp, bản thân tôi không đi, tuổi tác lớn rồi, đã 90 tuổi. Tôi bảo ai lên lớp thay tôi? Tôi bảo Hồ Tiểu Lâm thay tôi, tôi bảo Lưu Tố Vân thay tôi, thay tôi đi mở lớp. Tôi sẽ nói với trường học, sẽ nói với học trò, tuy họ là học với tôi, nhưng họ đã vượt qua tôi, chư vị học với họ tốt hơn học với tôi. Chư vị học thành rồi, tôi sẽ ấn chứng cho chư vị. Ưu điểm cả đời là ở chỗ này, phát hiện nhân tài, phát hiện [người] dụng công thật sự, tôi bội phục, tôi hộ trì, tôi toàn tâm toàn sức giúp đỡ chư vị, tôi sẽ không chướng ngại người khác, tôi sẽ không đố kị người khác. Hoan hỷ, vui mừng cho Phật giáo, hoan hỷ cho Thế Tôn, hoan hỷ cho A Di Đà Phật, hoan hỷ cho tất cả chúng sanh. Cho nên tôi đúng lúc đến làm hộ pháp, dắt thế hệ sau tốt lên. Thế hệ sau vượt qua tôi, Phật pháp mới có thể hưng vượng, đời sau tốt hơn đời trước, thì Phật pháp lớn mạnh; đời sau kém hơn đời trước, thì Phật pháp sẽ diệt vong. Chúng ta chẳng thể không biết điều này, không thể không nghiêm túc tu học.

[43:28]

          Chúng ta xem tiếp theo, 「中品上生」“Trung phẩm Thượng sanh”, trong Quán Kinh. Chúng ta ở đây là Trung bối Thượng sanh, ở đây chúng ta dùng chữ “bối”, không dùng chữ “phẩm”. Quán Kinh dùng chữ “phẩm”, Thượng phẩm chính là Thượng bối của chúng ta, Trung phẩm là Trung bối của chúng ta, Hạ phẩm chính là Hạ bối của chúng ta, đây là hoàn toàn tương đồng. Trung phẩm Thượng sanh, hoa khai kiến Phật, chứng quả A-la-hán. 「中品中生,七日花開,得須陀洹」“Trung phẩm Trung sanh, thất nhật hoa khai, đắc Tu-đà-hoàn” (Trung phẩm Trung sanh, bảy ngày hoa nở, đắc quả Tu-đà-hoàn), Trung phẩm Trung sanh. Tu-đà-hoàn là Sơ quả, họ cần ở đó tu hành sau nửa kiếp, vãng sanh đến thế giới Cực Lạc thọ mạng vô lượng, thọ mạng vô lượng kiếp, thì nửa kiếp đó không tính là gì, không phải thời gian rất dài, thì họ đắc quả A-la-hán, thì cũng trở thành Trung bối Thượng sanh, họ đi vào Thượng sanh, rồi từ từ nâng lên trên. 「中品下生亦是七日後得須陀洹」“Trung phẩm Hạ sanh diệc thị thất nhật hậu đắc Tu-đà-hoàn” (Trung phẩm Hạ sanh, cũng sau bảy ngày, đắc quả Tu-đà-hoàn), vãng sanh đến thế giới Cực Lạc, sau bảy ngày, thì chứng đắc quả Tu-đà-hoàn, cũng chính là bảy ngày hoa nở. Bảy ngày hoa nở, họ tương đồng với Trung phẩm Trung sanh; thế nhưng thời gian chứng quả A-la-hán khác nhau, qua một tiểu kiếp thành A-la-hán. Đây là quả Thánh của Tiểu-thừa. 「善導大師謂中品上生,是小乘根性上善凡夫人」“Thiện Đạo Đại sư vị Trung phẩm Thượng sanh, thị Tiểu-thừa căn tánh thượng thiện phàm phu nhân” (Đại sư Thiện Ðạo cho rằng Trung phẩm Thượng sanh, là người phàm phu thượng thiện căn tánh Tiểu-thừa), Đại sư Thiện Đạo nói với chúng ta, 「中品中生是小乘下善凡夫人」“Trung phẩm Trung sanh thị Tiểu-thừa hạ thiện phàm phu nhân” (Trung phẩm Trung sanh là người phàm phu hạ thiện Tiểu-thừa), đều có căn cơ Tiểu-thừa, 「中品下生是世善上福凡夫人」“Trung phẩm Hạ sanh thị thế thiện thượng phước phàm phu nhân” (Trung phẩm Hạ sanh là người phàm phu thiện thượng phước thế gian), phước báo là phước báo của Thượng phẩm, đại phước báo.

          Thế nào là phước báo Thượng phẩm? Bất luận xuất gia tại gia, hộ trì Đạo tràng, hộ trì người tu hành, đây là thượng phước của thế gian. Tại sao vậy? Chư vị hộ trì một người, họ chứng quả, chư vị xem vãng sanh đến thế giới Cực Lạc, họ là sanh Phương Tiện Hữu Dư độ, không phải Phàm Thánh Đồng Cư độ. Mà ở trong Phương Tiện Hữu Dư độ, bảy ngày hoa nở, nửa kiếp thì thành A-la-hán, đây là quả Tiểu-thừa, chứng A-la-hán. Trung phẩm Hạ sanh, bảy ngày chứng Tu-đà-hoàn, một tiểu kiếp thành A-la-hán. Phía trước [nói] thời gian của Trung sanh là nửa kiếp, nửa tiểu kiếp chứng quả A-la-hán; chỗ này cần một kiếp, một tiểu kiếp chứng A-la-hán, thành A-la-hán. Lời khai thị này của Đại sư Thiện Đạo đáng để chúng ta tham khảo. Thánh quả của Tiểu-thừa. Đại sư Thiện Đạo nói, Trung phẩm Thượng sanh, là phàm phu thượng thiện căn tánh Tiểu-thừa. Người không thể không tu thiện, không thể làm ác, làm ác tương ưng ba đường ác, tu thiện tương ưng với ba đường thiện. Tu thiện và cầu sanh vãng sanh, đó chính là thượng thiện của thế giới Cực Lạc, chính là lời hiện tại Đại sư Thiện Đạo đã nói, người thượng thiện của căn tánh Tiểu-thừa.

Tiêu chuẩn thiện ác là gì? Thập thiện nghiệp đạo là căn bản. Niệm Phật, [là] thiện trong thiện, không có việc nào thiện hơn việc này. Niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, thì không phải căn tánh Tiểu-thừa nữa, [mà là] căn tánh Đại-thừa, phàm phu thượng thiện của căn tánh Đại-thừa tuyệt không chỉ là A-la-hán, mà là Bồ-tát rồi. Chúng ta phải biết điều này, chúng ta nên nỗ lực hướng lên. Chúng ta không tranh với người, chúng ta có thể tu đến tầng cao bao nhiêu thì được tầng cao bấy nhiêu, mục đích không phải ráng tranh địa vị, địa vị cao thấp, phẩm vị cao thấp, không phải đang tranh điều này, mà chúng ta đang hoằng hộ chánh pháp, khuyên bảo chúng sanh, chúng ta làm điều này. Chúng ta tự mình vãng sanh, chúng ta hy vọng người người đều có thể vãng sanh. Lợi ích vãng sanh chúng ta biết, rất nhiều người lại không biết, cho nên đều nửa tin nửa ngờ, đối với lợi ích công đức của vãng sanh, chúng ta làm ra, để họ có lòng tin, thì công đức này lớn rồi. Cho nên [cần] làm tấm gương.

          Lão Hòa thượng Hải Hiền đã thành tựu thời trẻ rồi. Tôi xem đĩa CD về ngài, đọc Vĩnh Tư Tập về ngài, thể hội của tôi, ngài phải là khoảng 40 tuổi, đạt lý nhất tâm bất loạn, khoảng 30 tuổi đạt sự nhất tâm bất loạn. Sự nhất tâm chính là A-la-hán, lý nhất tâm chính là Pháp-thân Bồ-tát. Ngài có thể đi bất cứ lúc nào, nhiều lần gặp mặt A Di Đà Phật, ngài đã cầu A Di Đà Phật, cầu Phật dẫn ngài đến thế giới Cực Lạc. Phật cười nói với ngài: con tu được rất tốt, trụ thêm mấy năm ở thế gian này, để biểu pháp, làm kiểu mẫu tốt, cho người học Phật xem, cho người niệm Phật xem. Cho nên sau khi ngài chứng đắc, hoàn toàn là biểu pháp, không phải thọ mạng của ngài, là phước báo của chúng sanh, là Như Lai đã kéo dài thọ mạng cho ngài, không liên quan đến thọ mạng của chính ngài, không phải nữa. Chúng ta phải biết điều này. Tôi cũng đã nói với các đồng học, việc này lại không hiếm lạ, ngài đạt được gia trì của Phật Pháp, chúng ta cũng có thể đạt được, chỉ cần thật phát tâm, xả mình vì người, hy sinh thân mạng cũng không hề tiếc nuối, không còn chính mình nữa, sống ở thế gian này một ngày thì biểu pháp một ngày.

[53:53]

          Thọ mạng của tôi, bao nhiêu người đoán mạng cho tôi, tính quẻ đoán mạng, chỉ 45 tuổi. Bây giờ lại thêm 45 tuổi nữa, việc thêm này là do A Di Đà Phật thêm, đây không phải của chính tôi, thọ mạng của chính tôi thì sớm đã hết rồi. Tôi cũng không biết cuối cùng thêm bao lâu. Dù sao mỗi ngày tôi đều nghĩ về vãng sanh, mỗi ngày tôi đều mong vãng sanh. Thế nhưng lưu lại đây một ngày, thì tôi cần làm một ngày, là công việc gì? Tôi làm biểu pháp này, giảng kinh. Nếu sức khỏe rất tốt, tuy là tuổi đã cao rồi, mà thể lực bình thường, không có bệnh vặt, hiện tại chỉ là giọng nói không vang bằng lúc trước. Nếu như giọng nói của tôi hồi phục được giống như lúc còn trẻ, thì trong tâm tôi có một việc, Kinh Hoa Nghiêm chưa có viên mãn, đây là một sự việc rất đáng tiếc, tôi muốn giảng viên mãn Kinh Hoa Nghiêm. Giảng viên mãn Kinh Hoa Nghiêm ít nhất phải 10 năm. Không thể giảng tỉ mỉ giống trước đây, nếu tôi giảng tỉ mỉ kiểu như trước, thế phải giảng 20.000 giờ mới có thể giảng xong. Tại vì sao? Bộ kinh này, thật sự, Pháp sư Khai Tâm đã khuyên tôi, Pháp sư ở Đại Lục cũng đã khuyên tôi, lão Hòa thượng Danh Sơn, Quán trưởng Hàn lúc đó đã thỉnh cầu tôi, hy vọng tôi giảng xong Kinh Hoa Nghiêm, nếu tôi không giảng, thì sau này không có ai giảng nữa. Lời này là lời thật, không phải lời giả. Tôi cũng hy vọng có người: học Hoa Nghiêm, học Pháp Hoa, dẫn tông Hiền Thủ, tông Thiên Thai hưng khởi lên. Thật sự có người học Hoa Nghiêm, học Pháp Hoa, đến tìm tôi, chúng tôi mở lớp nhỏ, lớp nhỏ chính là lớp một người, lớp hai người. Tôi dạy chư vị thế nào? Tôi dạy chư vị niệm Kinh Hoa Nghiêm, đọc niệm Kinh Pháp Hoa, đọc niệm 1.000 lần, rồi đến tìm tôi. Chưa niệm 1.000 lần thì không cần tìm tôi, tại vì sao? Chư vị chưa có nền tảng, chưa có gốc rễ. Sau 1.000 lần trở đi, chư vị sẽ có chỗ ngộ, tôi sẽ giúp đỡ chư vị, sẽ thành tựu chư vị.

          Thời triều Đường, dưới hội của Lục Tổ Đại sư, Thiền sư Pháp Đạt chuyên công Kinh Pháp Hoa, đọc Pháp Hoa 3.000 lần. Kinh Pháp Hoa rất dài, chỉ có bảy quyển, thế nhưng dung lượng mỗi quyển đều rất dài, một ngày đại khái chỉ có thể đọc một lần, bảy quyển. Ba ngàn lần phải đọc bao lâu? Phải đọc ba, bốn năm, không dừng, vẫn không dừng, một ngày đọc một lần, một năm 360 lần, 10 năm 3.000 lần. Gặp Lục tổ, Lục tổ vừa điểm, ngài đã khai ngộ. Nếu ngài không có căn bản 3.000 lần Kinh Pháp Hoa, thì đã không khai ngộ. Chúng ta phải hiểu đạo lý này. Ngày nay, Lưu Tố Vân, Hồ Tiểu Lâm: làm ra tấm gương cho chúng ta xem. Hồ Tiểu Lâm, 3.000 lần Đại Thừa Khởi Tín Luận, niệm 3.000 lần rồi. Đến nói với tôi, hai câu nói của Đại đức xưa truyền lại vô cùng chính xác, một chút cũng không giả, chính là 「讀書千遍,其義自見」“Độc thư thiên biến, kỳ nghĩa tự kiến” (Đọc sách ngàn biến, tự thấy nghĩa của sách), đó là phương pháp; 「一門深入,長時薰修」“Nhất môn thâm nhập, trường thời huân tu” (Thâm nhập một môn, huân tu lâu dài), đó là lý niệm. Chỉ một môn, niệm môn này 3.000 lần, đây là cơ sở của chư vị, không có cơ sở này, học không được. Nếu chư vị không có môi trường đọc kinh, cắm nền tảng này, thì tôi có thể giúp đỡ chư vị, tôi có thể cúng dường chư vị, để chư vị có môi trường đọc kinh rất lý tưởng, chư vị chăm chỉ mà đọc. Mười năm, giống như những đại kinh này, sau khi đọc tiếp 3.000 lần, thì không giống nữa, pháp hỷ sung mãn, trí huệ mở rồi, phước báo cũng sẽ hiện tiền.

[1:00:41]

          Kinh luận ở trên, là lời của Kinh Quán Vô Lượng Thọ, lời trong Vãng Sanh Luận, dường như trái ngược với lời của Kinh Vô Lượng Thọ, không giống nhau. 「本經中輩皆是發菩提心之大乘行人,到已」“Bản kinh trung bối giai thị phát Bồ-đề tâm chi Đại-thừa hành nhân, đáo dĩ” (Bậc trung ở Kinh này đều là hành nhân Đại-thừa phát tâm Bồ-đề, đã đến), đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, 「皆不退轉於無上菩提」“giai bất thoái chuyển ư Vô Thượng Bồ-đề” (đều không còn thoái chuyển nơi Vô Thượng Bồ-đề). Đây là pháp môn Tịnh tông, Kinh Vô Lượng Thọ là nòng cốt của pháp môn Tịnh tông, là đại kinh, Kinh Quán Vô Lượng Thọ: là bổ sung cho kinh này của chúng ta, bù đắp chỗ không đủ, một là lý luận, một là phương pháp. Kinh đó đã nói 16 loại phương pháp, gọi là 16 pháp quán; lý luận kinh đó nói ra, 「是心是佛,是心作佛」“thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật” (Tâm này là Phật, tâm này làm Phật), hai câu nói này trong Kinh Vô Lượng Thọ không có, trong Quán Kinh có. Chính là tại sao chư vị có thể thành Phật nhanh như vậy? Chính là chư vị vốn đã là Phật. Bởi vì chư vị vốn là Phật, cho nên chư vị khôi phục thành Phật không khó, đạo lý ở chỗ này. Thế nhưng nhất định phải đi con đường thành Phật, A Di Đà Phật mới có thể giúp được; Chư vị không đi con đường này của Ngài, thì Ngài giúp không được gì, tuy rằng tâm này là Phật, nhưng chư vị cũng không có cách nào thành Phật, chư vị phải tuân thủ phương pháp của A Di Đà Phật. Cho nên trong Kinh Vô Lượng thọ đã nói, tất cả là「發菩提心,一向專念」 “phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”. Nhiều điều giảng trong Quán Kinh, những điều trong Vãng Sanh Luận, chưa hoàn toàn giảng phát Bồ-đề tâm. Bậc Thượng, bậc Trung, bậc Hạ: trong kinh này, ba bậc đều là nói: 「發菩提心,一向專念」“phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”, chúng ta phải dùng điều này làm chuẩn.

Tịnh Ảnh Sớ, là trước tác của Đại sự Huệ Viễn đời nhà Tùy, ngài đã giải thích cho chúng ta, ngài giải thích rất kỹ càng tỉ mỉ, 「甚為詳善。疏曰」“thậm vi tường thiện. Sớ viết” (rất là rõ ràng khéo léo. Sớ nói rằng), Sớ này chính là Sớ của Đại sư Huệ Viễn viết, chúng ta gọi là Tiểu Huệ Viễn, chú giải của ngài. 「天親作往生偈」“Thiên Thân tác Vãng Sanh kệ” (Ngài Thiên Thân làm Kệ Vãng Sanh), chính là kệ tụng trong Vãng Sanh Luận, 「二乘種皆不得生」“Nhị thừa chủng giai bất đắc sanh” (chủng tánh Nhị Thừa đều không được vãng sanh), nói rất rõ ràng. 「《觀經》宣說小乘眾生亦得往生其義云何?」“Quán Kinh tuyên thuyết Tiểu-thừa chúng sanh diệc đắc vãng sanh kỳ nghĩa vân hà?” (Quán kinh nói rằng chúng sanh Nhị Thừa cũng được vãng sanh, nghĩa là thế nào?) Khác với cách nói trong Vãng Sanh Luận của Bồ-tát Thiên Thân, có người hỏi Đại sư Tịnh Ảnh, Đại sư Tỉnh Ảnh trả lời rằng, 「言二乘種不得生者,就此國中往去時說。小乘眾生先雖習小,臨欲去時,要發大心,方得往生。若用小心求生彼國,無得去理。為是天親言,二乘種不得往生。」“Ngôn Nhị thừa chủng bất đắc sanh giả, tựu thử quốc trung vãng khứ thời thuyết. Tiểu-thừa chúng sanh tiên tuy tập tiểu, lâm dục khứ thời, yếu phát đại tâm, phương đắc vãng sanh. Nhược dụng tiểu tâm cầu sanh bỉ quốc, vô đắc khứ lý. Vị thị Thiên Thân ngôn, Nhị thừa chủng bất đắc vãng sanh” (Nói chủng tánh Nhị Thừa không được vãng sanh, là nói lúc ra đi ở trong cõi này. Chúng sanh Tiểu-thừa trước chỉ có thói quen Tiểu-thừa, lúc sắp ra đi, phải phát tâm lớn, mới được vãng sanh. Nếu dùng tâm nhỏ, cầu sanh cõi ấy, thì không lý nào được. Vì vậy ngài Thiên Thân nói: chủng tánh Nhị Thừa không được vãng sanh). Là giảng điều gì? Lúc vãng sanh, lúc vãng sanh đó, lúc chư vị lâm mạng chung, chư vị là tâm Tiểu-thừa, chư vị không thể vãng sanh; Nếu bình thường tu Tiểu-thừa, mà lúc vãng sanh phát tâm cầu sanh Tịnh độ, đó chính là tâm Đại-thừa, tâm Đại-thừa thì có thể sanh. Là nói vào lúc đó, nói rất có đạo lý. Tiểu-thừa học tập Tiểu trước, lúc lâm chung họ đã phát tâm Bồ-đề. Tâm Bồ-đề nào? Yếu Giải nói rất hay, thật tin, thật nguyện chính là Vô Thượng Bồ-đề tâm. Chân thật tin tưởng thế giới Cực Lạc, không có hoài nghi, thật muốn vãng sanh, cầu vãng sanh, tâm này gọi là Vô Thượng Bồ-đề tâm, đây không phải Tiểu-thừa. Cho nên họ liền có thể sanh, trong khoảng một niệm này cảm ứng đạo giao với A Di Đà Phật, Phật liền hiện thân đến tiếp dẫn họ.

[1:06:50]

          Cho nên vào một sát-na lúc vãng sanh đó, chư vị vốn cầu sanh Tịnh độ, đến lúc đó, không buông xuống tình chấp đối với thế gian này, có thể vãng sanh hay không? Không thể vãng sanh. Vãng sanh, có thể vãng sanh hay không, ở một niệm sau cùng. Một niệm sau cùng là thật sự, 「信願持名」“tín nguyện trì danh”, phù hợp bốn chữ này, lời của Đại sư Ngẫu Ích nói, nhất định được sanh, không tương ưng với bốn chữ này thì không thể vãng sanh. Bình thường niệm, tốt! Không niệm cũng tốt, lâm chung nhất định phải niệm. Thế nhưng bình thường không niệm, lâm chung sẽ niệm, cơ duyên này quá ít. Lúc mạng sắp hết một hơi thở vẫn chưa dứt, có người nhắc nhở chư vị, chư vị vừa nghe, hiểu rõ rồi, buông xuống vạn duyên, tin thật nguyện thiết, niệm một câu A Di Đà Phật, hai tiếng A Di Đà Phật, đều có thể vãng sanh. Chúng ta muốn dùng điều này, vậy phải vô cùng may mắn, lúc lâm chung chư vị có cơ hội này hay không? Cơ hội này là đại phước báo, phước báo lớn tu tích được từ vô lượng kiếp, hưởng thụ trong một lúc đó, trong một sát-na đó có người nhắc nhở, chính mình thật tin, vậy thì thật vãng sanh rồi, vãng sanh đến thế giới Cực Lạc thì làm A-duy-việt-trí Bồ-tát.

          Chúng ta xem thêm hỏi đáp tiếp theo đây. 「問云:若言去用大心」“Vấn vân: Nhược ngôn khứ dụng đại tâm” (Hỏi: Nếu nói đã dùng tâm lớn), một niệm sau cùng đó là tâm đại Bồ-đề, 「何故至彼證入小果」“hà cố chí bỉ chứng nhập Tiểu quả” (thì tại sao sang cõi kia lại chứng vào Tiểu quả?), tại sao lúc đến thế giới Cực Lạc, khi chứng quả, hoa nở thấy Phật, họ là A-la-hán? Tiếp theo đây giải thích, 「由其本習小乘多故。本在此處,多學觀察苦、無常等」 “do kỳ bổn tập Tiểu-thừa đa cố. Bổn tại thử xứ, đa học quán sát khổ, vô thường đẳng” (Do người ấy vốn tu tập nhiều Tiểu-thừa. Vốn ở cõi này, chỉ quen học quán sát Khổ, Vô Thường v.v…), đây là người Tiểu-thừa, họ nhiều đời nhiều kiếp đến nay đều học Tiểu-thừa, đều quán khổ, không, vô thường, tập khí này rất sâu, chủng tử trong A-lại-da rất nhiều, rất kiên cố, đến thế giới Cực Lạc vẫn khởi hiện hành. Cho nên đến thế giới Cực Lạc, sáu trần của thế giới Cực Lạc đều thuyết pháp, có nói Tiểu-thừa hay không? Có, nói khổ không vô thường. Tại sao học điều này? Bởi vì có không ít người vãng sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư độ, họ là do phát tâm đại Bồ-đề mà đi, nhưng tâm phát đó là lâm thời phát, là phát lúc lâm chung, tin sâu không nghi đối với thế giới Cực Lạc, khởi tâm hướng về với A Di Đà Phật, bởi vì lúc đó, một niệm tâm đó đến thế giới Cực Lạc. Thế nhưng sau khi đến thế giới Cực Lạc, hoa nở thấy Phật, Phật giảng kinh thuyết pháp, là có liên quan với tập tánh của mỗi người, chư vị muốn nghe kinh gì thì nghe được kinh đó. Vậy phải tập thành thói quen, đừng tập thành thói quen Tiểu-thừa.

Đại khái điều này sẽ không có ở người Trung Hoa, ở Nam truyền khả năng rất nhiều, chúng tôi tin tưởng. Tại vì sao? Trung Hoa đã bỏ Tiểu-thừa đi rồi, dùng Nho Đạo thay thế Tiểu-thừa. Cho nên người Trung Hoa đọc kinh Phật đều là đọc Đại-thừa, không có đọc Tiểu-thừa. Nam truyền có, có thể nói Nam truyền, sống trong thế gian này đều là học kinh luận Tiểu-thừa, là Tứ A Hàm trong Đại Tạng Kinh của chúng ta, họ là học kinh ấy. Cho nên ấn tượng trong tâm họ rất sâu, thường xuyên nhớ đến, chư vị ở thế giới Cực Lạc, nghe được A Di Đà Phật thuyết pháp, nói kinh Tiểu-thừa. Thực tế là Di Đà Thế Tôn thuyết pháp, không có khởi tâm động niệm, chúng sanh có cảm, tự nhiên có ứng, chư vị muốn nghe kinh gì, muốn học kinh gì, thì chư vị nghe được chính là kinh đó. Cho nên Phật dùng một âm mà thuyết pháp, chúng sanh theo loại mà hiểu được, mỗi người nghe được khác nhau. Học bộ kinh giống nhau, nhưng sâu cạn khác nhau, tôi nghe tương đối cạn, chư vị nghe khá sâu, tại sao vậy? Bởi trình độ của chư vị cao hơn tôi. Chư vị nghe đức Di Đà, lục trần thuyết pháp, đều là khế cơ khế lý, đây là điều mà thế giới phương khác không có.

 [1:13:16]

Đến thế giới Cực Lạc tốt, tại sao vậy? Không phải thân xác thịt này, mà là thân Pháp-tánh, thân này của chúng ta là thân Pháp-tướng, là vật chất, thân ở thế giới Cực Lạc không phải vật chất, là Pháp-tánh. Pháp-tánh là thế nào? Không cần dinh dưỡng, không cần ăn uống, không cần nước trà, không cần ngủ nghỉ. Cho nên chư vị có thể thực sự dụng công đến cùng, chư vị không có chướng ngại, chư vị không cần ngủ nghỉ. Vì vậy nhà Phật chúng ta có một câu nói, ở ngay lập tức, “đương hạ tức thị”. Nơi tốt như vậy, tất cả vật chính mình cần dùng, đều là tùy tâm biến hóa, tôi muốn căn nhà, căn nhà liền hiện thành, tôi liền ngồi trong căn nhà; Tôi muốn ở dưới cây, thì liền ở dưới cây lớn, hoàn toàn là tâm tưởng sự thành, thật sự là không có nguyện giả, tâm tưởng sự thành, muốn thứ nào hiện ra thứ ấy. Chính mình cũng như vậy, tưởng thân Phật, thì hiện thân tướng của Phật; Nghĩ thân Bồ-tát, hiện tướng Bồ-tát; Nghĩ thân trời người, hiện tướng trời người. Có năng lực phân vô lượng thân, phân thân làm gì? Ngoài việc cúng Phật, tu phước, nghe pháp ra, còn có thể giúp Phật giáo hóa chúng sanh. Trong cõi nước Phật đó, chắc chắn có duyên với chúng ta, đời quá khứ chúng ta đã ở nơi ấy, còn có rất nhiều người quen, còn có rất nhiều người với các mối quan hệ khác nhau, chỉ cần có liên quan, có duyên, thì chư vị có thể độ họ. Tại sao vậy? Bởi chư vị nói chuyện, họ tin chư vị; Chư vị hiện tướng, họ ưa thích, vậy là có duyên. Không có duyên thì không có cảm, có duyên, có cảm thì có ứng, chư vị liền có thể ứng. Cho nên trên cầu Phật pháp, dưới hóa độ chúng sanh, thượng cầu hạ hóa, chư vị có thể làm được cùng một lúc, đây là sự thù thắng của thế giới Cực Lạc. Người phát tâm Đại-thừa càng dễ dàng, người tâm Đại-thừa không có chính mình. Có chính mình, là tâm phàm phu; Có chính mình, không chịu lợi tha, là tâm Tiểu-thừa. Phải biết điều này. Cho nên trong kinh đều khuyên chúng ta phát tâm Bồ-đề, [tâm] Đại-thừa.

          Giải thích này rất hay, 「以本乘終發大乘心,求生彼故。在彼國中,得羅漢已,即便求大(迴小向大)。曇鸞道綽諸祖勝解,已引錄於前」“dĩ bổn thừa chung phát Đại-thừa tâm, cầu sanh bỉ cố. Tại bỉ quốc trung, đắc La-hán dĩ, tức tiện cầu Đại (hồi Tiểu hướng Đại). Đàm Loan, Đạo Xước chư Tổ thắng giải, dĩ dẫn lục ư tiền(Bởi vốn nhân lúc cuối cùng, phát tâm Ðại-thừa cầu sanh cõi kia. Nên ở nước ấy, đã đắc quả La-hán, thì liền cầu Ðại-thừa (hồi Tiểu hướng Ðại). Giải thích thù thắng của ngài Đàm Loan, Đạo Xước và chư Tổ, đã trích lục phía trước), thì không cần nói thêm nữa. Cho nên trong Kinh Vô Lượng Thọ đã nói, toàn là tâm Bồ-đề, toàn là pháp Đại-thừa. Sanh đến nước kia, ở trong nước đó, chứng đắc A-la-hán, thì họ lập tức sẽ hồi Tiểu hướng Đại. Tại vì sao? Bởi được Phật lực gia trì. Ảnh hưởng của môi trường đối với người rất sâu. Môi trường là được tạo thành thế nào? Do đại chúng xã hội tạo thành, ngày nay nổi bật nhất, do dư luận tạo thành, do văn hóa tạo thành, văn hóa ở đây là tiêu cực không phải tích cực. Thế giới Cực Lạc toàn là tích cực, không có tiêu cực, môi trường sáu trần mà sáu căn tiếp xúc được, đều là Đại-thừa, Bồ-tát thừa. Chúng ta xem thêm đoạn sau cùng này, 「下輩」。 “Hạ bối” (Bậc Hạ). 「下輩因行」“Hạ bối nhân hạnh” (Nhân hạnh của bậc Hạ), cũng chia làm ba đoạn nhỏ. Đoạn một, 「發心專念」“phát tâm chuyên niệm”. Chư vị xem:

[1:19:48]

          【其下輩者。假使不能作諸功德。當發無上菩提之心。一向專念阿彌陀佛。】“Kỳ Hạ bối giả. Giả sử bất năng tác chư công đức. Đương phát Vô thượng Bồ-đề chi tâm. Nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật.” (Bậc Hạ đó là: giả sử không thể làm nhiều công đức. Nhưng phải phát tâm Vô Thượng Bồ-đề, một hướng chuyên niệm A Di Ðà Phật).

Họ không có khả năng, không có cơ hội làm công đức, chúng ta nói đoạn ác tu thiện, tích công lũy đức, họ làm không được, vậy thì là bậc Hạ. Phải như thế nào? Phải 『發無上菩提之心』Phát Vô thượng Bồ-đề chi tâm” (Phát tâm Vô thượng Bồ-đề). Tâm, tâm Bồ-đề này, dùng cách nói của Đại sư Ngẫu Ích thì hay nhất rồi, thật tin có thế giới Cực Lạc, thật tin có A Di Đà Phật, thật tin niệm Phật có thể vãng sanh, đây chính là phát tâm Bồ-đề, nhất hướng chuyên niệm, vậy thì có thể sanh. Trong chú giải nói với chúng ta, 「下輩生者,有三因緣:一、發菩提心,二、一向專念,三、至誠願生。與中輩相較,只是不能作諸功德」“Hạ bối sanh giả, hữu tam nhân duyên: Nhất, phát Bồ-đề tâm; Nhị, nhất hướng chuyên niệm; Tam, chí thành nguyện sanh. Dữ Trung bối tương giảo, chỉ thị bất năng tác chư công đức” (Vãng sanh bậc Hạ, có ba nhân duyên: Một là phát Bồ-đề tâm; Hai là một hướng chuyên niệm; Ba là chí thành nguyện sanh. So với bậc Trung, chỉ là không thể làm các công đức), đối với tích công lũy đức, họ không có cách nào làm. Chúng ta xem khoa nhỏ thứ hai, tiểu khoa thứ hai trong nhân hạnh, 「信樂不疑」“tín nhạo bất nghi” (Tin thích không nghi). Kinh văn:

【歡喜信樂。不生疑惑。】“Hoan hỷ tín nhạo. Bất sanh nghi hoặc.” (Hoan hỷ tin thích, không sanh nghi ngờ).

          Đây là hai câu nói rất quan trọng, phải hoan hỷ, thật tin, không có nghi hoặc. Pháp môn này gọi là pháp khó tin, dị hành nan tín. Dễ hành khó tin [mà] có thể tin, không hoài nghi. Trong Chú Giải nói, 「歡喜信樂,不生疑惑,即十念必生願中之至心信樂」。 “Hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc, tức thập niệm tất sanh nguyện trung chi chí tâm tín nhạo” (Hoan hỷ tin thích, không sanh nghi ngờ, chính là chí tâm tin thích trong nguyện Mười niệm chắc chắn vãng sanh). 「十念必生」“Thập niệm tất sanh” (Mười niệm chắn chắn vãng sanh) là nguyện thứ 18, là trung tâm của 48 nguyện. A Di Đà Phật thù thắng đến tột cùng, tất cả chư Phật tôn xưng Ngài là: 「光中極尊,佛中之王」“quang trung cực tôn, Phật trung chi vương”, dựa vào điều gì? Là dựa vào nguyện Mười niệm chắc chắn vãng sanh này của Ngài, chư Phật Bồ-tát chưa phát, Ngài đã phát. Ngài phát rồi, chư Phật Bồ-tát có cần phát thêm không? Không cần thiết. Tại sao vậy? Bởi chư Phật Bồ-tát mình người là một, không phải hai. Ngài phát chính là tôi phát, tự tha bất nhị. Cho nên không cần phát thêm nữa, thế giới Cực Lạc đã có rồi. Thế giới Cực Lạc lớn bao nhiêu? Biến pháp giới hư không giới, hư không pháp giới lớn bao nhiêu, thì thế giới Cực Lạc lớn bấy nhiêu. Cho nên đấy là cảnh giới không thể nghĩ bàn, chúng ta không cách gì tưởng tượng. Vậy phải thế nào? Chỉ cần thật sự chịu tin tưởng, niệm Phật vãng sanh thế giới Cực Lạc, tất cả chư Phật Như Lai đều cử họ đến thế giới Cực Lạc. Chúng ta niệm Phật vãng sanh, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cử đi, A Di Đà Phật bên đó tiếp nhận, Thích Ca Mâu Ni Phật bên này cử đi, làm gì có đạo lý không sanh! Phải hiểu điều này, không thể không hiểu. Chúng ta xem thêm, đoạn nhỏ thứ ba này cũng là hai câu, 「至誠願生」“chí thành nguyện sanh”.

【以至誠心。願生其國。】 “Dĩ chí thành tâm. Nguyện sanh kỳ quốc.” (Dùng tâm chí thành, nguyện sanh cõi đó).

          [1:25:17]

          Chân thành đến tột cùng, đời này tôi đến thế gian đây, là muốn điều gì? Muốn thế giới Cực Lạc, mong vãng sanh. Làm gì? Tín nguyện trì danh, tôi chính là làm điều này, mục đích cầu sanh Tịnh độ. Để làm gì? Để thành Phật độ sanh, tôi đến thế giới Cực Lạc thành Phật, sau khi thành Phật rồi, tôi giống như chư Phật Như Lai độ khắp chúng sanh. Chúng ta và Phật: tâm đồng tâm, nguyện đồng nguyện, hạnh đồng hạnh, chúng ta là cùng một con đường, một đạo lộ. Những thứ khác thì sao? Những thứ khác đều là giả, buông xuống toàn bộ. Chúng ta không có những thứ khác, chúng ta chỉ có Tự-tánh viên mãn, tánh đức viên mãn. Tự-tánh vạn đức vạn năng, vô lượng trí huệ, tôi trở về Tự-tánh, trong Tịnh tông gọi là hồi quy Thường Tịch Quang. Trở về Thường Tịch quang, mới là thật sự chứng đắc cứu cánh viên mãn, chúng ta và Thường Tịch Quang là một không phải hai. Chí thành nguyện sanh chính là chí thành tâm, và hồi hướng phát nguyện tâm trong Quán Kinh. Bốn chữ ở phía trước, là chí thành tâm trong Quán Kinh; Câu phía sau đây, 『願生其國』“nguyện sanh kỳ quốc” (Nguyện sanh cõi đó), là hồi hướng phát nguyện tâm. 「且三輩往生咸云:當發無上菩提之心。是故《淨影疏》曰:然此三輩,人位雖殊,至欲往生,齊須發心求大菩提,專念彼佛,迴向發願,方得往生。」“Thả tam bối vãng sanh hàm vân: Đương phát Vô thượng Bồ-đề chi tâm. Thị cố Tịnh Ảnh Sớ viết: Nhiên thử tam bối, nhân vị tuy thù, chí dục vãng sanh, tề tu phát tâm cầu đại Bồ-đề, chuyên niệm bỉ Phật, hồi hướng phát nguyện, phương đắc vãng sanh.” (Hơn nữa, ba bậc vãng sanh đều nói: Phải phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Do đó Tịnh Ảnh Sớ ghi: Như vậy ba bậc này, địa vị mỗi người tuy sai khác, nhưng rốt cuộc muốn vãng sanh, đều phải phát tâm cầu đại Bồề, chuyên niệm đức Phật ấy, hồi hướng phát nguyện, mới được vãng sanh). Mấy câu này nói rất hay. Dẫn chú giải của Đại sư Viễn Công thời Tùy, chính là Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ, trong đó nói, ba bậc ở nơi đây, tuy rằng địa vị của mỗi người khác nhau, nhưng muốn vãng sanh, tất cả cần phải phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, đây là lời vô cùng rõ ràng trong kinh văn, tất cả đều có. Cho nên hồi hướng phát nguyện, mới có thể vãng sanh; Không có hồi hướng, không thể vãng sanh; Hồi hướng không phát nguyện, không thể vãng sanh; Phát nguyện không hồi hướng, cũng không thể vãng sanh.

 [1:29:18]

          Chí thành tâm, hồi hướng phát nguyện tâm trong Quán Kinh, đây là gì? Đây là Bồ-đề tâm. Bồ-đề tâm là giảng ba điều, ở đây nói hai điều, lược bớt ở giữa rồi. Bồ-đề tâm là gì? Chí thành tâm là thể của Bồ-đề tâm. Thứ hai, là thâm tâm, Bồ-đề tâm giảng ba điều, chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm, đây là Bồ-đề tâm nói trong Quán Kinh. Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận đã giảng, thể của Bồ-đề tâm là trực tâm. Là giống nhau, hoàn toàn giống với điều này, đó gọi là trực tâm, đây gọi là chí thành, là một ý nghĩa. Chân thành chính là chí thành, chí thành chính là chân thành, chân thành tâm là thể của Bồ-đề tâm. Tự thọ dụng là thâm tâm, thâm tâm là tâm tin sâu, tin không có một chút nghi ngờ, tin sâu có thế giới Cực Lạc, tin sâu có A Di Đà Phật, nhất định không có hoài nghi. Tiếp theo là hồi hướng phát nguyện, tôi hướng về, tôi muốn đi đến thế giới Cực Lạc, tôi muốn thấy A Di Đà Phật, ý niệm này kiên cố, ý niệm này thời thời khắc khắc ở trong tâm, ngoài ý niệm này ra, không còn ý niệm nào khác. Tại vì sao? Bởi những thứ khác đều là giả, để thứ giả trong tâm thì tâm hỏng rồi, tâm là tâm giả, không phải chân tâm, trong chân tâm không có đồ giả. Thế giới hiện tượng vật chất này giả, hiện tượng tinh thần, ý niệm cũng là giả, hiện tượng tự nhiên cũng là giả, không có thứ nào không phải giả. 「凡所有相,皆是虛妄」“Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” ( Hễ những gì có tướng đều là hư vọng), Kinh Kim Cang hay! 「一切有為法,如夢幻泡影」“Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh” (Tất cả Pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt bóng), đừng để trong tâm. Đặt ở trong tâm chính là thế giới Cực Lạc, chính là A Di Đà Phật, chính là một câu Phật hiệu: Nam Mô A Di Đà Phật, ngoài một niệm này ra, không có niệm thứ hai, đây là người thật niệm Phật.

          Vừa rồi nói tập chư công đức, tích tụ công đức, công đức này có khả năng, có duyên phận phải làm; Không có khả năng thì đừng làm; Không có khả năng, có duyên phận cũng không cần phải làm; Có duyên phận, không có khả năng cũng không thể làm. Cho nên điều kiện phải đầy đủ, chúng ta mới có thể làm, điều kiện không đủ, không thể làm. Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, năm xưa chúng tôi giảng qua hai lần. Lần thứ nhất giảng, ở Đài Bắc, tôi nhớ ở Tinh xá Chí Liên, là Đạo tràng của Cư sĩ, không có giảng hết, sau đó ra nước ngoài thì gián đoạn rồi. Lần giảng thứ hai, ở Singapore, cũng không giảng hết, duyên của chúng tôi đã có thay đổi, không thể tiếp tục giảng. Chúng tôi rời khỏi Singapore đến Úc châu này rồi, lúc đến chúng tôi vẫn tiếp tục giảng bộ kinh ấy, tôi giảng đến 85 tuổi, 75 tuổi tôi đến Úc châu, vẫn tiếp tục giảng được 10 năm, 85 tuổi, [thì] không được rồi. Thấy kinh quá dài, tôi buông xuống, đổi sang giảng Kinh Vô Lượng Thọ. Tại sao vậy? Kinh Vô Lượng Thọ là trung bổn Hoa Nghiêm, Kinh A Di Đà là tiểu bổn Hoa Nghiêm. Vậy là cảm thấy được, không có người học Hoa Nghiêm nữa, chúng tôi giảng chỉ có thể lưu một bộ đĩa CD, cho người sau làm tham khảo, không ai học rồi. Chính mình cảm thấy vãng sanh quan trọng hơn bất cứ điều gì, nếu không nhất tâm nhất ý cầu vãng sanh, đời này chúng tôi sẽ uổng công, tổn thất này thì quá lớn rồi! Cho nên thay đổi, việc thay đổi này vẫn là ở trên một đường thẳng, chúng ta đi trên đường tắt. Nếu thật có người muốn học, học Hoa Nghiêm, học Lăng Nghiêm, học những đại kinh đại luận này, học Pháp Hoa, dù một người, chúng tôi cũng cần giúp đỡ họ, nối huệ mạng của Phật, đây chính là tích công lũy đức.

          [1:36:45]

          Đoạn sau cùng, 「往生果德」“vãng sanh quả đức” (quả đức của vãng sanh), có nhân có duyên nói quả rồi, vãng sanh thế giới Cực Lạc là tình hình thế nào. Trong kinh nói rất hay. Chúng ta xem kinh văn:

【此人臨終。夢見彼佛。亦得往生。功德智慧。次如中輩者也。】 “Thử nhân lâm chung. Mộng kiến bỉ Phật. Diệc đắc vãng sanh. Công đức trí huệ. Thứ như trung bối giả dã.” (Người ấy khi mạng sắp hết, mộng thấy đức Phật kia, cũng được vãng sanh; Công đức trí huệ: kém hơn người ở bậc Trung).

          Đây chính là không dùng mắt. Mở to mắt, tỉnh táo, thấy được A Di Đà Phật đến rồi, người vãng sanh có thể nhìn thấy, người khác nhìn không thấy. Họ sẽ nói tôi thấy Phật rồi, còn thấy những người nào, còn có Bồ-tát, còn có người xuất gia, còn có người quen thuộc quen biết, họ vãng sanh năm xưa, ngày nay theo A Di Đà Phật đến, đến tiếp đón rồi. Đây là bậc Trung trở lên. Bậc Hạ thì không có, bậc Hạ là 『夢見彼佛』“mộng kiến bỉ Phật”, trong mộng thấy được, giống nằm mộng. Không phải mở to mắt nhìn thấy, nhắm mắt, giống trong mộng. Họ sẽ nói với người khác, tôi đã thấy Phật rồi, nhắm mắt ngủ, vừa nhìn thấy Phật rồi, Phật đến tiếp dẫn tôi. 『功德智慧』“Công đức trí huệ”, sau bậc Trung một cấp.

          Trong chú giải nói với chúng ta, 「夢見彼佛」 “mộng kiến bỉ Phật” (Mộng thấy đức Phật ấy), tiếp theo có hai cách giải thích, giải thích khác nhau. 「一,望西謂先是夢見,臨終時是眼見佛。疏曰:三輩俱有夢見眼見故」“Nhất, Vọng Tây vị tiên thị mộng kiến, lâm chung thời thị nhãn kiến Phật. Sớ viết: Tam bối câu hữu mộng kiến nhãn kiến cố” (Một là như Vọng Tây cho rằng trước là mộng thấy, lúc lâm chung chính mắt thấy Phật. Sớ ghi rằng: nên ba bậc đều có mộng thấy, tận mắt thấy), ba bậc đều có, là mộng thấy trước, chư vị ngủ rồi, trong mộng nhìn thấy, tỉnh trở lại, lại nhìn thấy nữa, đây là trong mộng và tỉnh lại đều thấy được. 「《覺經》中說上輩云:於其臥睡中,夢見無量清淨佛,及諸菩薩、阿羅漢。其人壽命欲終時,無量清淨佛,則自與諸菩薩、阿羅漢,共翻飛行迎之」“Giác Kinh trung thuyết Thượng bối vân: Ư kỳ ngọa thùy trung, mộng kiến Vô Lượng Thanh Tịnh Phật, cập chư Bồ-tát, A-la-hán. Kỳ nhân thọ mạng dục chung thời, Vô Lượng Thanh Tịnh Phật, tắc tự dữ chư Bồ-tát, A-la-hán, cộng phiên phi hành nghinh chi” (trong Giác Kinh nói bậc Thượng như sau: Trong lúc ngủ nghỉ, mộng thấy Vô Lượng Thanh Tịnh Phật, và các Bồ-tát, A-la-hán. Người ấy lúc mạng sắp hết, thì chính Vô Lượng Thanh Tịnh Phật, và các Bồ-tát, A-la-hán: cùng bay đến đón tiếp người ấy). Trước chữ phiên có chữ cộng, cộng là cùng, đây là nói người này lúc lâm chung, vô lượng chư Phật, Phật và Bồ-tát, A-la-hán đều bay đến, bay ở trong không trung đến đón tiếp họ, có hiện tượng này. 「中輩亦同夢見彼佛。往生先兆,臨終來迎。本願勝益,故俱應有。若無佛迎,本願虛設」“Trung bối diệc đồng mộng kiến bỉ Phật. Vãng sanh tiên triệu, lâm chung lai nghinh. Bổn nguyện thắng ích, cố câu ứng hữu. Nhược vô Phật nghinh, bổn nguyện hư thiết” (Bậc Trung cũng mộng thấy đức Phật ấy. Là điềm báo trước vãng sanh, lúc lâm chung đến đón. Do bổn nguyện lợi ích thù thắng, nên phải có đủ. Nếu Phật không đến, thì bổn nguyện là dối bày). Vậy thì giảng không thông rồi. Trong 48 nguyện có Phật đến đón tiếp, vậy Phật nhất định sẽ đến, nếu không có Phật đến, thì nguyện đó là giả rồi. 48 nguyện là gốc rễ lớn của Tịnh tông, nhất định không có một câu nói dối. Đây chính là nói rõ người vãng sanh, mấy ngày trước lúc vãng sanh thì nằm mộng, hoặc là trước một ngày, hoặc là trước hai, ba ngày, thậm chí còn có bảy ngày, trước vãng sanh bảy ngày, mộng thấy Phật đến tiếp dẫn, lúc sắp đi, thì họ nhìn thấy Phật đến tiếp dẫn. Họ có thể nhìn thấy, người khác nhìn không thấy. Họ có thể nói ra tình hình lúc đó, người khác nghe được rồi, đó là thật, đó không phải giả. Tuyệt đối không phải nói, trước khi họ lâm chung, trước khi gần tắt thở, vẫn có vọng tưởng, còn gạt người, không có bản lĩnh này, có bản lĩnh này, vậy cũng rất tài ba, không thể có. Cho nên lúc lâm mạng chung, những gì họ nhìn thấy, những gì họ nói đều là thật.

          Người bình thường lúc lâm chung, chúng ta biết, phần nhiều thấy được gì? Đại quỷ Vô Thường, thấy được Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường đến dắt họ đi. Đó cũng là sự thật. Đó là lúc Vô Thường đến bắt chư vị, cũng là chư vị còn có một chút công đức. Tại vì sao? Bởi tiểu quỷ không dám đụng chư vị. Nếu chư vị không có công đức, không có thiện hạnh, thiện nghiệp, thì tiểu quỷ bắt chư vị đi, đó đều là hiện tượng bình thường. Ngày nay có, những nơi nào có? Bệnh viện. Ngày xưa tôi có một đồng học, anh ấy ở Bệnh viện Vinh Dân Đài Bắc của Đài Loan, chức vụ của anh ấy dường như là Tổ trưởng của Tổ nhập viện, lúc nhập viện phải thông qua chỗ của anh ấy, làm thủ tục ở chỗ anh ấy. Anh ấy nói với tôi, quỷ thật có, không giả chút nào, Bác sĩ, Y tá, những người giống như họ vậy, đều thấy qua. Chỉ cần nhìn thấy cửa phòng bệnh nào có Vô Thường, Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường, xuất hiện có Vô Thường, người bệnh này sẽ không qua khỏi, ba ngày thì mất rồi. Cho nên về sau anh ấy học Phật với tôi. Người đó cũng vãng sanh rồi, là họ Hồ, thời gian kháng chiến, chúng tôi cùng học thời Trung học. Không phải giả, không gạt người, ở trong mộng thấy Phật.

           [1:45:28]

          Trong Trung bối của Quán Kinh nói, chúng ta đã đọc một nửa, câu sau cùng này rất quan trọng, Nếu không có Phật đón, thì bổn nguyện dối bày. 「然今文中,無來迎者。且為分別,三輩差異。謂上報佛,中是化佛,下夢佛故」“Nhiên kim văn trung, vô lai nghinh giả. Thả vi phân biệt, tam bối sai dị. Vị thượng BáoPhật, trung thị HóaPhật, hạ mộng Phật cố” (Như vậy trong văn này, không nói đến đón. Vả chăng để phân biệt: sự sai khác giữa ba bậc. Nên nói: bậc Thượng là Báo-Phật [đến đón], bậc Trung là Hóa-Phật, bậc Hạ là mộng thấy Phật). Trong mộng thấy được Phật. Những lời này là lời nói chân thật, thì chúng ta nói trên sự thực, 「夢見之後,可見佛迎」“mộng kiến chi hậu, khả kiến Phật nghinh” (sau khi mộng thấy, có thể thấy Phật đến đón). Mộng là điềm báo trước, Phật có dùng thị hiện điềm báo này cho chư vị, truyền tin tức cho chư vị, nói với chư vị khi nào Phật đến đón tiếp, có điềm báo trước này, có loại này. Sau mộng, sau khi mộng thấy, có thể Phật đón. 「故《觀經》說,化佛來迎。惡人尚爾,況善人耶?」“Cố Quán Kinh thuyết, HóaPhật lai nghinh. Ác nhân thượng nhĩ, huống thiện nhân da? (Nên Quán kinh nói: HóaPhật đến đón. Người ác còn được thế, huống là người thiện?) Chỗ này nói rất có đạo lý. Người sanh Thượng phẩm, tích lũy thiện căn công đức lớn, cho nên mộng thấy đều là chư Phật đến đón tiếp, thù thắng không gì bằng. Trung phẩm thì kém rất nhiều, là Tiểu-thừa, cũng là phát đại tâm. Cho đến Hạ phẩm, trong Hạ phẩm có người ác. Ngũ nghịch thập ác nói trong Quán Kinh, lâm chung gặp được Thiện-tri-thức, giảng thế giới Cực Lạc cho họ nghe, họ tin tưởng, họ không hoài nghi, khuyên họ niệm Phật, thì họ cùng niệm với mọi người, đó là người ác, không phải người thiện.

Có rất nhiều ví dụ, có người cả đời chưa từng học Phật, chỉ là lúc lâm mạng chung, ở Mỹ chúng tôi đã gặp được trường hợp này. Hội Phật giáo Washington DC, được thành lập năm 1980, tìm đến tôi, tôi giữ chức Hội trưởng của họ, Hội trưởng khóa thứ nhất. Nơi đó có người Cư sĩ, niệm Phật niệm được rất tốt, gặp được ở nơi đó, cũng là Hoa kiều, mở một tiệm bánh mì, tên là Chu Quảng Đại, cả đời không có tín ngưỡng tôn giáo. Lâm chung ông ấy bị ung thư, Bác sĩ nói cho ông ấy biết, thọ mạng là trong mấy ngày, không có cách nào cứu được, cho ông ấy về nhà. Người nhà đang tìm xem có cách nào cứu hay không, thì tìm đến chùa chiền, tìm đến những người thông với thần linh, tìm những nơi này, cũng tìm đến chúng tôi. Chúng tôi đã cử mấy người đồng tu, đến nhà để thăm ông ấy, thật sự không có cách để cứu rồi. Cho nên chúng tôi có mấy đồng tu, giới thiệu thế giới Cực Lạc cho ông ấy, nói niệm Phật tốt, vãng sanh thế giới Cực Lạc, thì ông được giải thoát rồi. Ông ấy liền tin, điều này khó có. Cho nên ông ấy bèn gọi người nhà của ông, đừng tìm Bác sĩ nữa, đừng tìm thuốc trị bệnh nữa, không cần, tất cả mọi người cùng niệm Phật với tôi. Ba ngày, ba ngày ba đêm, ra đi trong tiếng niệm Phật. Nói với mọi người, Phật đến đón tiếp ông ấy. Đây là chính chúng tôi gặp được trường hợp này. Ông ấy mở tiệm bánh mì, ở đặc khu Washington. Về sau người cả nhà đó đều học Phật hết, nhìn thấy thù thắng như vậy. Cho nên đây là thật, không phải là giả.

          Câu nói tiếp theo đây, người ác còn như thế, huống là người thiện, làm ác không thiện, họ đều có cảm ứng như vậy, huống hồ người thiện? Tiếp theo, Niệm lão còn khai thị tường tận cho chúng ta, nói dựa vào bên trên luận điểm này có ba điều, thứ nhất, 「彼佛有臨終接引之本願,若於下輩不來迎接,則有違本願故」“bỉ Phật hữu lâm chung tiếp dẫn chi bổn nguyện, nhược ư Hạ bối bất lai nghênh tiếp, tắc hữu vi bổn nguyện cố” (đức Phật ấy có bổn nguyện lâm chung tiếp dẫn, nên nếu với bậc Hạ mà không đến nghinh tiếp, thì lại trái với bổn nguyện), nguyện thứ 18 trong 48 nguyện, thế thì trái ngược rồi. Hạ phẩm của Quán Kinh tất cả đều là người ác, Phật đều đến đón tiếp. 「今經下輩」“Kim kinh Hạ bối” (Bậc Hạ của Kinh này), tất cả là người thiện, đâu có đạo lý không đến đón tiếp! Đây là điểm thứ hai. Điểm thứ ba, hai loại bản dịch thời Hán, Ngô, 「上中二輩俱先夢佛,然後臨終見佛,故今下輩亦應如是。是故本經謂夢見,言其前者。《觀經》云見佛,指其後者也」“Thượng Trung nhị bối câu tiên mộng Phật, nhiên hậu lâm chung kiến Phật, cố kim Hạ bối diệc ưng như thị. Thị cố bổn kinh vị mộng kiến, ngôn kỳ tiền giả. Quán Kinh vân kiến Phật, chỉ kỳ hậu giả dã” (Trong hai bậc Thượng và Trung đều trước mộng thấy Phật, sau lúc lâm chung thấy Phật, nên bậc Hạ này cũng phải như vậy. Vì thế, kinh này nói là mộng thấy, là nói điều trước. Quán kinh nói thấy Phật, là nói điều sau). Trong Quán Kinh thấy Phật là chỉ sau, trong bản kinh này nói mộng thấy, là thuộc về trước, phía trước, thấy Phật ở trước, mộng thấy Phật trước, sau thấy Phật. Cách nói này cũng có đạo lý, ở sau các ngài đã nêu mấy cách nói, giúp đỡ chúng ta đoạn nghi sanh tín, thời gian hôm nay hết rồi, chúng ta học tập đến đây thôi.

( Hết tập 321)

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử cùng chúng sanh
Đều sanh nước Cực Lạc
Sớm viên thành Phật quả
Rộng độ khắp chúng sanh.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Trả lời 0